Chương 1 để so sánh các quy định của pháp luật áp dụng dành cho người lao động cao tuổi giữa Bộ luật lao động qua các năm. - Phương pháp đánh giá, tổng hợp là phương pháp được tác giả sử dụng để hoàn thành luận văn nh m đưa ra cái nhìn toàn diện, khách quan với vấn đề cần nghiên cứu có sử dụng những tư liệu ở các phương pháp nêu trên. Các vấn đề dự kiến cần giải quyết Đề tài “Sử dụng người lao động cao tuổi theo pháp luật Việt Nam” được thể hiện ở những khía cạnh sau: - Nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống các quy định có liên quan đến sử dụng người lao động cao tuổi từ khái niệm, đặc điểm của người lao động cao tuổi đến các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, cũng như ý nghĩa của các quy định này đối với người lao động cao tuổi. - Nghiên cứu những khó khăn, bất cập mà thực tiễn có thể gặp phải trong quá trình người lao động cao tuổi và người sử dụng lao động thực hiện quan hệ lao động, nh m đưa ra những kiến nghị trong việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về sử dụng người lao động cao tuổi với mong muốn xây dựng các quy định này được hoàn thiện, bảo đảm việc áp dụng pháp luật được thực hiện thống nhất, hiệu quả.
Bố cục của đề tài được chia thành 02 Chương: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về sử dụng ngƣời lao động cao tuổi theo pháp luật Việt Nam. Chƣơng 2: Những bất cập trong các quy định pháp luật về sử dụng ngƣời lao động cao tuổi và kiến nghị hoàn thiện. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ SỬ DỤNG NGƢỜI LAO ĐỘNG CAO TUỔI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Khái niệm và đặc điểm của ngƣời lao động cao tuổi 1.
Khái niệm người lao động cao tuổi Pháp luật lao động b ng các cơ chế khác nhau, luôn có các quy định nh m bảo vệ các bên trong QHLĐ, tạo QHLĐ hài hoà và bền vững. Trong đó, các đối tượng lao động đặc thù như lao động cao tuổi luôn được các nhà làm luật ưu tiên bảo vệ cũng như có những chính sách phù hợp nh m khuyến khích tham gia lao động. hái niệm NLĐ cao tuổi lần đầu tiên được đưa ra tại huyến nghị số 122 về Chính 1 sách việc làm năm 1964 dưới tên gọi “lao động cao tuổi” – “older worker” và được 2 nhắc tới rõ ràng hơn ở Khuyến nghị số 150 về Phát triển nguồn nhân lực năm 1975 , 3 huyến nghị 162 dành cho người cao tuổi năm 1980. Mặc dù tại các huyến nghị này, “người lao động cao tuổi” được nhắc đến khá nhiều, tuy vậy chưa có một định nghĩa chính thức nào về đối tượng này, mà dẫn chiếu đến quy định của mỗi quốc gia cụ thể, theo cách phù hợp với luật pháp và phù hợp với quy định địa phương.
Tại Khuyến nghị số 162 có đề cập r ng việc trợ cấp tuổi già phụ thuộc vào việc đóng góp hoặc theo thời gian hoạt động nghề nghiệp, NLĐ cao tuổi đã hoàn thành thời gian đủ tiêu chuẩn quy định sẽ được hưởng trợ cấp lâu dài. Đồng thời Khuyến nghị cũng nhắc đến điều kiện nhận trợ cấp tuổi già, theo đó NLĐ ở độ tuổi 4 65 hoặc sớm hơn có đủ điều kiện nhận trợ cấp tuổi già. Tuy không có một khái 1“R122 – Employment Policy Recommendation, 1964”, https://www.org/dyn/normlex/en/f? p=1000:12100:::NO:12100:P12100_INSTRUMENT_ID:312460, truy cập ngày 22/9/2021. 2“R150 – Human Resources Development Recommendation, 1975”, https://www.org/dyn/normlex/en/f?p=1000:12100:934706278557::NO::P12100_SHOW_TEXT:Y:, truy cập ngày 22/9/2021.
3 “R162 – Older Workers Recommendation, 1980”, Recommendation R162 - Older Workers Recommendation, 1980 (No.org), truy cập ngày 22/9/2021. 4 Nguyên văn tiếng Anh: “27. Under schemes in which the grant f and old-age benefit depends on the payment of contributions or on a period of occupational activity, older workers who have completed a prescribed qualifying period should be entitled to receive a long-service benefit”. 9 niệm “người lao động cao tuổi” nào được đưa ra nhưng các quy định này có thể được hiểu r ng người lao động đã hoàn thành thời gian đủ tiêu chuẩn quy định ở độ tuổi 65 tuổi hoặc sớm hơn, được coi như NLĐ cao tuổi.
So sánh với các quy định tại Trung Quốc và Singapore, hai đất nước với tỷ lệ dân số già đang chiếm tỷ lệ cao trong những năm gần đây, các quy định về NLĐ cao tuổi cũng như tái sử dụng nguồn lao động này rất được quan tâm. Trung Quốc có chính sách r ng, NSDLĐ có thể sử dụng lao động cao tuổi từ sáu mươi lăm tuổi trở lên để tiếp tục tham gia vào thị trường lao động theo thoả thuận lao động với thời 5 hạn cố định. Singapore cũng ghi nhận về nguyên tắc sử dụng lại NLĐ đã nghỉ hưu nhưng còn đủ sức khoẻ, đạt yêu cầu công việc để tiếp tục lao động cho đến khi NLĐ 6 đạt đến 65 tuổi hoặc độ tuổi khác, có thể lên đến 67 tuổi. Như vậy, có thể thấy pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của nhiều quốc gia có quy định mặc dù có nét tương đồng nhau, tuy nhiên chưa thống nhất về khái niệm, tên gọi chỉ “người lao động cao tuổi”.
Mặc dù có sự khác nhau về cách thức để gọi tên đối tượng lao động này, nhưng về mặt nội hàm các khái niệm đều giống ở chỗ đều tiếp tục lao động sau một độ tuổi nhất định để phân biệt với các đối tượng khác. Đối với pháp luật Việt Nam, Sắc lệnh số 77 /SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh quy định về Quy chế công nhân có đề cập đến lao động của những 7 người đã về hưu khi đủ 55 tuổi nhưng vẫn được giữ lại làm việc , tuy nhiên Sắc lệnh không đề cập về tên gọi chung về đối tượng lao động này. Mặc dù tại Sắc lệnh số 77 không có giải thích thêm thế nào là công nhân đã về hưu mà được gọi ra làm việc lại và cũng không đề cập đến điều kiện để công nhân đã về hưu và tiếp tục làm việc, tuy nhiên quy định tại Sắc lệnh này đã đặt nền tảng cho khái niệm NLĐ cao tuổi được kế thừa và hoàn thiện hơn ở các BLLĐ sau này. The provisions of Paragraphs 26 and 27 of this Recommendation need not be applied by schemes in which workers can qualify for an old-age benefit at the age of sixty-five or earlier”.
Nguồn: Recommendation R162 - Older Workers Recommendation, 1980 (No. 5“Middle-aged and Elderly Employment Promotion Act”, https://law.tw/ENG/LawClass/LawAll.aspx?pcode=N0090055, truy cập ngày 20/8/2021. 6“Retirement and Re-employment Act”, https://www.org/dyn/natlex/docs/ELECTRONIC/34679/65106/F-1967094769/SGP34679.pdf, truy cập ngày 26/9/2021. 7 Điều 43 Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh quy định về Quy chế công nhân: “Trong trường hợp đặc biệt, công nhân đến hạn về hưu có thể được giữ lại giúp việc do quyết định của cơ quan quản trị.
10 Đến khi BLLĐ năm 1994 được ban hành, khái niệm “người lao động cao tuổi” mới được nhắc đến minh thị tại Điều 123. Kể từ đó, BLLĐ sửa đổi năm 2012 và đến nay là BLLĐ năm 2019, khái niệm NLĐ cao tuổi luôn được quy định thành một điều khoản tại BLLĐ. Mặc dù qua các giai đoạn khác nhau, BLLĐ qua các năm có sự thay đổi về khái niệm này, tuy nhiên đến nay khái niệm vẫn quy định theo hướng NLĐ cao tuổi là người tiếp tục lao động sau độ tuổi nghỉ hưu được quy định. Và hiện nay, khái niệm NLĐ cao tuổi chỉ được quy định duy nhất tại BLLĐ năm 2019.
Xem xét khái niệm NLĐ cao tuổi trong các tài liệu giảng dạy, giáo trình Luật lao động cơ bản của Trường Đại học Cần Thơ có nêu: “Người lao động cao tuổi là người lao động nam trên 60 tuổi, nữ trên 55 tuổi, đây là những người không phải thực hiện nghĩa vụ lao động nữa vì nhìn chung cả thể lực và trí lực của họ không 8 còn b ng những người lao động trẻ, khoẻ khác”. hái niệm trên tương đối đầy đủ, đồng thời xác định phạm vi QHLĐ cũng như chỉ rõ mục đích của đối tượng. Tuy nhiên tác giả chưa chỉ rõ một đặc tính quan trọng của đối tượng này, đó là khả năng tiếp tục lao động sau độ tuổi nghỉ hưu được quy định. Người đã qua độ tuổi nghỉ hưu mặc dù có tham gia lao động, có QHLĐ trên cơ sở giao kết HĐLĐ nhưng nếu không có khả năng tiếp tục lao động thì QHLĐ này không được pháp luật thừa nhận và đương nhiên NLĐ đó không thể coi là NLĐ cao tuổi, là một chủ thể trong QHLĐ.
Cùng nghiên cứu về đề tài lao động cao tuổi, theo tác giả Thân Quang Thái: “Lao động cao tuổi là người lao động đã hết tuổi lao động theo quy định của pháp 9 luật, còn khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động”. Đây là khái niệm phản ánh tương đối đầy đủ nội hàm về NLĐ cao tuổi, trong đó đã xác định phạm vi đối tượng, tính chất, thuộc tính của nhóm đối tượng này, đó là đã qua độ tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật, tuy nhiên vẫn còn khả năng tiếp tục lao động, làm cơ sở để phân biệt với những nhóm lao động khác. Từ các quan điểm khác nhau về NLĐ cao tuổi, theo quan điểm của tác giả, trong khái niệm về NLĐ cao tuổi, cần phải xác định rõ các đặc điểm và phạm vi của đối tượng lao động này. Theo đó, trong phạm vi và đối tượng nghiên cứu đã xác 8 Xem thêm: Diệp Thành Nguyên, “Giáo trình Luật Lao động cơ bản”, tr.
110 9 Thân Quang Thái (2016), Lao động của người cao tuổi th o pháp luật ở nước ta hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học Xã hội, tr.8 11 định, tác giả đưa ra khái niệm người lao động cao tuổi như sau: Người lao động cao tuổi là người lao động đ qua độ tuổi lao động th o quy định của pháp luật, c n khả năng lao động và tiếp tục lao động tr n cơ sở hợp đồng lao động hái niệm này đã nhấn mạnh đặc trưng của NLĐ cao tuổi để phân biệt với NLĐ thông thường, đó là những NLĐ đã qua độ tuổi nghỉ hưu nhưng vẫn tiếp tục lao động. Đồng thời, khái niệm cũng chỉ ra phạm vi về độ tuổi để xác định NLĐ cao tuổi nh m phân tách rõ về các nhóm đối tượng lao động khác nhau. hái niệm vừa được tác giả nêu trên đã chỉ rõ tính chất của NLĐ cao tuổi, đó là còn khả năng lao động và tiếp tục lao động sau độ tuổi nhất định. hi nói đến còn khả năng lao động và tiếp tục lao động của NLĐ cao tuổi chính là đề cập đến tình trạng NLĐ còn đủ điều kiện về sức khoẻ để có thể tham gia lao động theo quy định của pháp luật.