Chương 1 SỬ DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lí luận của việc sử dụng KTLM trong dạy học Lịch sử ở trường THPT 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm “kiến thức” Trong cuộc sống, khái niệm “kiến thức” được chúng ta sử dụng thường xuyên và phổ biến ở nhiều phương diện, lĩnh vực khác nhau.
Vì vậy, khi xét về bản chất khái niệm “Thế nào là kiến thức?” lại có khá nhiều quan niệm phong phú, đa dạng. Với ngành giáo dục học, “Kiến thức là sự thông hiểu và lưu trữ trong trí nhớ những sự kiện cơ bản của khoa học và những qui tắc kết luận và qui luật xuất xứ từ những sự kiện ấy” [26; tr. Tác giả Trần Viết Vượng, trong cuốn Giáo dục học cho rằng, “kiến thức là hệ thống những khái niệm, phạm trù, những qui tắc, lí thuyết của từng môn học mà học sinh cần phải nắm vững. Kết quả học tập môn học được đánh giá bằng khả năng nhận thức của học sinh với số lượng và chất lượng kiến thức đó” [58; tr.
Với các nhà sinh lí học, “kiến thức” chẳng quan là một dạng nhất định của những mối liên hệ tạm thời, được tạo trên vỏ các bán cầu đại não do ảnh hưởng những kích thích bên ngoài và hoạt động tư duy tích cực của chủ thể nhận thức. Như vậy,“kiến thức” chỉ mang tính “tạm thời”, không tồn tại mãi. Nếu không thường xuyên “nhắc lại”, “kiến thức” đã hình thành trên vỏ đại não đó sẽ bị lu mờ, thậm chí biến mất và bị thay thế bởi điều mới mẻ hơn. Theo từ điển Tiếng Việt, “kiến thức” được định nghĩa “là những điều hiểu biết do học tập, tìm hiểu mà có” [47; tr.
Như vậy có thể thấy, tùy theo góc độ tiếp cận mà mỗi ngành khoa học sẽ đưa ra những định nghĩa cụ thể khác nhau về “kiến thức” song tất cả đều đi tới điểm chung khẳng định “kiến thức” là kết quả của quá trình nhận thức. “Kiến thức” chính là những kinh nghiệm có được trong quá trình lao động, sản xuất, nghiên cứu, học tập nhằm chinh phục tự nhiên, phát triển cuộc sống của con người. Vì vậy, “kiến thức” trở thành công cụ hữu ích, trang bị cho con người trong quá trình phát triển. Ngược lại, qua thực Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c tiễn, “kiến thức” lại được kiểm chứng, bổ sung làm cho phong phú, chân xác hơn.
Và cuối cùng, một cách bao quát nhất có thể xác định, “kiến thức” là những hiểu biết về tự nhiên, xã hội mà con người có được do quá trình học tập, tìm hiểu mà có. Khái niệm “kiến thức lịch sử” Kiến thức lịch sử thuộc phạm trù ý thức xã hội. Việc nắm vững kiến thức lịch sử là cơ sở đầu tiên giúp chúng ta hiểu đúng hiện thực lịch sử một cách chính xác, khách quan. Kiến thức lịch sử là nền tảng cho sự nhận thức, tìm hiểu, nghiên cứu qui luật phát triển trong tương lai.
Kiến thức lịch sử phát triển theo nhận thức của con người. “Một trong những mặt quan trọng của lịch sử là sưu tầm và nghiên cứu các sự kiện, những tế bào cơ bản của hiện thực. Sự kiện có thể coi là nguyên liệu để hình thành tri thức khoa học”[43; tr. Khi khoa học lịch sử ra đời, kiến thức lịch sử được sắp xếp, khái quát, trừu tượng hóa để từ đó rút ra qui luật phát triển xã hội.
Kiến thức lịch sử ghi lại lịch sử chân thật của con người, phản ánh quá trình phát sinh, phát triển khách quan của tự nhiên và xã hội theo trình tự thời gian. Vì vậy nó có tác động lớn trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm và hình thành thế giới quan khoa học. Kiến thức của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông là những hiểu biết trang bị cho học sinh về lịch sử phát triển của xã hội loài người, được khoa học lịch sử xác nhận và ghi chép chủ yếu trong các cuốn sách giáo khoa lịch sử. “Kiến thức lịch sử phổ thông gồm nhiều yếu tố: sự kiện, nhân vật, địa điểm, thời gian, khái niệm… phản ánh sự hiểu biết về những lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng…”[23; tr.
Như vậy, kiến thức lịch sử là sự phản ánh mọi mặt đời sống xã hội, là kết quả nghiên cứu của ngành khoa học lịch sử, được sử dụng vào nhận thức và hoạt động xã hội giúp con người hiểu một cách đầy đủ về quá trình phát triển của lịch sử loài người. Khái niệm về kiến thức liên môn trong dạy học lịch sử Môn học Lịch sử ở trường phổ thông có chức năng cung cấp cho học sinh những tri thức về sự phát sinh, phát triển của mọi mặt đời sống xã hội loài người. Theo đó, kiến thức lịch sử không tách biệt, riêng lẻ mà là sự tổng hòa những kiến thức giữa ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Đặc điểm này đặt ra yêu cầu với người Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c giáo viên dạy Lịch sử là phải chọn lọc, tổng hợp những khái niệm, nội dung từ những môn học khác nhau trong chương trình giáo dục phổ thông để làm nổi bật kiến thức lịch sử học sinh cần lĩnh hội.
Xác định những điểm đồng tâm trong tri thức các bộ môn ở trường phổ thông với kiến thức lịch sử để đạt tới mục tiêu giáo dục toàn diện chính là biểu hiện của việc sử dụng KTLM trong dạy học lịch sử. Đối với học sinh, KTLM giúp các em nhận thức được sự phát triển của xã hội một cách liên tục, thống nhất, hiểu được tính toàn diện của lịch sử. Điều này góp phần khắc phục tình trạng rời rạc, tản mạn trong kiến thức của học sinh. Khi học lịch sử có sử dụng KTLM, học sinh sẽ phát huy được vai trò chủ động của người học khi huy động những kiến thức đã học ở các bộ môn khác để lí giải sự kiện, hiện tượng trong lịch sử.
Điều này sẽ trực tiếp giúp học sinh tự củng cố kiến thức đã biết, mở rộng kiến thức mới và vận dụng giải quyết những tình huống phát sinh trong quá trình học tập. Như vậy, phương pháp sử dụng KTLM sẽ trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả giờ học, phát huy năng lực tư duy, sáng tạo cho học sinh, giúp các em có khả năng phân tích các sự kiện, tìm ra bản chất, qui luật khách quan trong sự phát triển của lịch sử. Cơ sở xuất phát của việc sử dụng KTLM trong dạy học lịch sử 1.Đổi mới giáo dục trong bối cảnh của cuộc cách mạng 4.0 Đặt trong bối cảnh ảnh hưởng ngày càng sâu rộng của cuộc Cách mạng 4.0, thời đại số với sự bùng nổ thông tin, xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam đã và đang chuyển mình mạnh mẽ, toàn diện trên các lĩnh vực để không ngừng đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, cũng trong điều kiện đó, cơ hội lớn luôn đi kèm với những thách thức, đòi hỏi mới.
Ngay từ Hội nghị lần thứ VIII, BCH Trung ương Đảng khóa XI đã chỉ ra mục tiêu chung cho toàn Đảng, toàn dân là: “Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa Việt Nam, giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để phát triển đất nước theo định hướng XHCN” [18; tr. Với ngành giáo dục, Đảng ta cũng đặc biệt quan tâm và đưa ra những chỉ đạo cụ thể nhằm đáp ứng yêu cầu chung của thời đại. Cũng trong Nghị quyết của Hội nghị Trung Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c ương VIII, khóa XI, Đảng nêu rõ: “Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện,… yêu gia đình, yêu Tổ quốc, hết lòng phục vụ nhân dân và đất nước” [18; tr. Luật Giáo dục 2005 đã thể chế hóa mục tiêu giáo dục phổ thông là: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và CNXH, hình thành và bồi dưỡng phẩm chất, năng lực của công dân, đáo ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [36; tr.
Đặc biệt, Nghị quyết 29-NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” nêu rõ mục tiêu tổng quát là: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và như cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả”. Kèm theo đó là đề ra mục tiêu cụ thể đối với giáo dục phổ thông: “Đổi mới giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát triển, bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” [2; tr. Như vậy, mục tiêu tổng quát nhất cho giáo dục hiện nay là hướng tới sự phát triển toàn diện, giúp người học có phẩm chất và năng lực tiếp nhận, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, phát huy tối đa khả năng của bản thân, từng bước trở thành công dân toàn cầu trong thời đại hội nhập. Do đó, việc sử dụng KTLM được xem như là một trong những giải pháp tích cực để đáp ứng những yêu cầu đó. Mục tiêu, nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông.
Bộ môn Lịch sử nằm trong hệ thống chương trình giáo dục phổ thông nói chung. Vì vậy, mục tiêu hướng tới của bộ môn được xây dựng trên cơ sở mục tiêu chung của giáo dục, của cấp học và dựa trên quan điểm, đường lối định hướng chung của Đảng và Nhà nước.