CHƯƠNG I: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT - KIẾN TẠO VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG VIỆC HÌNH THÀNH NỀN CẢNH QUAN Nghiên cứu nền rắn của cảnh quan có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình tìm hiểu nguyên nhân phát sinh và phát triển của cảnh quan Việt Nam. Nền rắn trong cảnh quan là kết quả tổng hòa của một tương quan tác động giữa các yếu tố nội lực và ngoại lực kéo dài hàng trăm triệu năm trước đây. Lịch sử phát triển của lãnh thổ nói chung và nền rắn của cảnh quan Việt Nam nói riêng còn là vấn đề cần nghiên cứu, tìm hiểu, bổ xung, song trên cơ sở của nguồn tư liệu hiện có có thể tóm tắt trong các đặc điểm sau: Theo các kết quả nghiên cứu địa chất, kiến tạo của nhiều tác giả (Trần Văn Trí, Phan Trường Thị, Trần Đức Lương, Nguyên Xuân Bao và nnk) thì lãnh thổ Việt Nam nằm trong bình đồ kiến tạo chung của khu vực Đông Nam Á, có cấu trúc và lịch sử phát triển khá phức tạp. Nhiều đơn vị kiến tạo lớn của khu vực gồm có những miền phát triển vỏ lục địa, vỏ dại dương và vỏ chuyển tiếp với cấu trúc của các yếu tố kiến tạo bậc I bao gồm: các megabioc nền (Trung - Việt, Indosinia) và các đai địa máng - uốn nếp (Cathaysia, Việt - Lào, Thái - Maiaysia)[54].
Trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam các yếu tố kiến tạo bậc I được phân bố cụ thể như sau: - Nền Trung - Việt chứa hầu hết diện tích Bắc Bộ, giới hạn phía Nam bởi đứt gãy sông Mã và được chia ra thành 2 (mesobloc.): máng nền Đông Bắc Bộ và hệ khâu rìa Tây Bắc Bộ. - Nền lndosinia chứa một phần diện tích đất liền và thềm lục địa phía Nam vĩ tuyến 15030' Bắc với các mesobioc Kon Tum, Nam Việt Nam và Minh Hải - Nattina. - Hệ địa máng - uốn nếp Cathaysia nằm dọc ven biển Đông Bắc Bộ và phân cắt với máng nền Đông Bắc Bộ bởi đứt gãy Dương Huy - Đồng Mô. - Hệ địa máng - uốn nếp Việt - Lào phân bố ở Bắc Trung Bộ, giới hạn phía Nam bởi đứt gãy Tam Kỳ - Hiệp Đức và phía Bắc bởi đứt gãy sông Mã.
Trên lãnh thổ Việt Nam gặp 2 đới riêng thuộc hệ địa máng - uốn nếp Thái - Malaysia, gồm đới Mường Tè và đới Hà Tiên. Cũng theo kết quả nghiên cứu của các tác giả [54] trên lãnh thổ Việt Nam còn thấy tồn tại các kiến trúc đặc biệt trên quan với các quá trình kiến lào xây dựng, phá hủy và cải tạo lại vỏ lục địa dã được hình thành ở các giai đoạn sớm hơn. Ngoài ra còn có sự phát triển các auiacogen trên các nền cổ với các đặc trưng là các đối hẹp dọc theo các đứt gãy và được lấp đầy bởi các đá trầm tích - phun trào có bề dày lớn với thành phần phun trào chủ yếu là bazơ, trung tính, axít và kiềm. Tuy nhiên trong mối liên quan đến việc hình thành cảnh quan theo ý kiến của nhiều tác giả [11, 12, 33, 54 ] có thể chia lịch sử phát triển nền rắn Việt Nam thành 3 giai đoạn: giai đoạn tiền Cambri, giai đoạn Cổ kiến tạo, giai đoạn Tân kiến tạo.
Vết tích còn lại của cấu trúc địa chất thuộc giai đoạn tiền Cambri là các địa khối đá biến chất - những hạt nhân của lãnh thổ Việt Nam gồm các khối và những mảng sót của mảng lục địa cổ tiền Cambri nha khối vòm sông Chảy, dải Hoàng Liên Sơn, cánh cảng sông Mã, địa khối Pu Hoạt, dải Pulaileng-Rào cỏ, địa khối Kon Tum). Cột địa tầng của các hệ tầng tiền Cambri rất dày (có nơi tới 10.000 m) chứng tỏ hoạt động sụt lần diễn ra mạnh, nham tướng chủ yếu là đá biến chất có nguồn gốc khác nhau: + Gơnai với tướng đá mafic có nguồn gốc macma phân bố ở dưới + Đá hoa, diệp thạch kết tính có nguồn gốc trầm tích nằm ở giữa + Đá biến chất yếu và xâm nhập gianh nằm ở phần trên Giữa các địa khối (các mảng khiển cổ) là các vùng sụt võng. Vào giai đoạn này bầu khí quyển chung bao gồm các khí: NH3, CO2, N, H2 và sau đó là O2 được hình thành từ các bụi khí núi lửa. Khí hậu nóng hầu như đồng nhất trên toàn cầu, khi bế mặt trái đất nguội dần, nước được tích đọng lại và từ đó phát triển các sinh vật bậc thấp dưới nước, thực vật trên cạn đến động vật.
Giai đoạn địa tào có 4 chu kỳ tạo núi: Caiedoni, Hecxini, Indosỉní và Kimeri. Tử chu kỳ Caledoni bắt đầu hình thành quá trình tạo lục, gắn phần đất mới hình thành vào các khiên nhân lục địa tiền Cambrỉ trên lãnh thổ Việt Nam với đặc trưng là cường độ nâng không cao, uốn nếp yếu và cục bộ ở một số điểm: + Mở rộng khối vòm sông Chảy thành khối nâng Việt Bắc + Hình thành cánh cung Duyên hải + Đặc trưng bởi chế độ sụt võng ở địa máng Trường Sơn + Tách khiên Kon Tum với các vùng sụt lún còn lại của đìa khối lnđôxinia bởi các đứt gãy "Thung lững Xecông "và "rãnh Nam Bộ ". Đây là những nền móng cho các cảnh quan núi và cao nguyên ở Việt Nam. Dấu ấn đậm nét của chu kỳ Hecxinỉ đường viền núi kéo từ Nam Trung Bộ đến cực Nam Trung Bộ ôm lấy địa khối KonTum, mà các chuyên gia người Pháp gọi là gờ núi An Nam.
Đây là ranh giới phân tách các cảnh quan cao nguyên phía Tây với các cảnh quan duyên hải Nam Trung Bộ. Hiện tượng biển tiến mạnh vào đầu Đevon tạo nên các nham tướng đa dạng từ nham tướng biển sâu dấn nham tướng biển nông và ven biển. Trong đó sự có mặt của đá vôi Đevon và Cacbon - Pecmi là cơ sở hình thành các cảnh quan karst ở Việt Nam sau này. Các tập trầm tích này lắng đọng với bề dày đến 3.000 m do quá trình sụt lún xảy ra tại các vùng phía Bắc đèo Ngang (tốc độ 0,07 mm/năm) và đến 7.000 m ở địa máng Trường Sơn (0,15 mm/năm).
Chu kỳ Inđoxini là chu kỳ hoàn thành phần lục địa nước ta. Chu kỳ Inđoxini là một trong hai chu kỳ diễn ra ở Nguyên đại Trung sinh từ Thai hạ đến Thật thượng trong thời gian khoảng 40 triệu năm. Đây là chu kỳ hoàn thành phần lãnh thổ nước ta. Chu kỳ Inđoxinia hoạt động mạnh ở phía Bắc vĩ độ 18 trong các địa máng sông Cả địa máng Sầm Nữa và mạnh nhất ở địa máng sông Đà.
Tốc độ sụt lùn ở trong vùng đạt 018 - 0,20 mm/năm tạo ra tập trầm tích dày đến 6.000 m với nham tướng phong phú, chủ yếu là cát kết và đá sét. Tử Sơn La đến Nính Bình - Thanh Hóa trong địa phận địa máng sông Đà hình thành các tập trầm tích đá vôi dày tuổi Triat, chủ yếu là đá vôi điệp Đồng Giao T2 eđg. Tại khiên KonTum và nền Hecxini các đứt gãy hình thành trong chu kỳ này và các hoạt động nâng - hạ nhẹ xảy ra dọc theo các đứt gãy. Ở rìa nền Hoa Nam.
nơi quá trình tạo tục đã hoàn thành sau các chu kỳ Caiedoni và Hecxini chỉ có một số khu vực sụt võng chứa trầm tích Thai như vùng sông Hiến, vùng An Châu. Chu kỳ Kimeri là chu kỳ sau trong nguyên đại Trung sinh được đặc trưng bởi các hoạt động macma. - Ở phần phía Bắc lãnh thổ: + Các đá phun trào chủ yếu là hoạt trong các máng trũng Cao Bằng - Thất Khê - Lộc Bình, ở thung lũng sông Thương, ở Bình Liêu, Tạm Đảo. + Xâm nhập chủ yếu là granit ở PhiaBiooc, ở Phiaoac.
+ Xâm nh(âp và phun trào mafic ở đứt gãy sân sông Đà. - Ở phần phía Nam lãnh thổ: + Phun trào hoạt từ Quỹ Nhơn đến Vũng Tàu. + Các đá andezit ở các nút cực Nam Trung Bộ: Biđup, Langbíang, TaĐưng. Hiện tượng xâm nhập và phun trào của chu kỳ này diễn ra trên khắp lãnh thổ Việt Nam và chấm dứt giai đoạn Cổ kiến tạo (giai đoạn địa máng).
Từ đây lãnh thổ Việt Nam căn bản đã hoàn thành, các vận động kiến lào vào Tân sinh chỉ có tác dụng cải tạo lại bề mặt cổ, các cảnh quan tục đĩa được hình thành và phát triển từ sau giai đoạn này. Dựa trên kết quả phân tích tài liệu, Vũ Tự Lập cho rằng từ Cổ sinh, rừng đã có mặt và bao phủ trên nhiều vùng lãnh thổ nước ta, sang Nguyên đại Trung sinh trong điều kiện nóng ẩm và mùa khô ngắn, giới thực vật Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ và phong phú với nhiều loài cây lớn như loài Hiển hoa khỏa tử (Araucarioxilon) với đường kính thân cây đạt 40 -50 em và nhiều loại khác mà hóa thạch có trong các bể than: loài Dương xỉ lớn (Giostopteris Indiea),. Trong các rừng do có các loài Bò sát không lồ sinh sống. Một vài loài thực vật bản địa đặc hữu còn tồn tại từ đó cho đến ngày nay, như Dương xỉ thân gỗ (Cythea podophylla), Lõa tùng (Pisilottim mtium), Thủy tùng, Tuế (Cycas pinectata), Bụt mọc, Dẻ tùng,.
Các cảnh quan Việt Nam ngày nay thực sự hình thành và phát triển tử các giai đoạn trước, đặc biệt từ sau chu kỳ Indoxini và được cải tạo vào giai đoạn Tân kiến tạo. Điều đặc biệt là do lãnh thổ được cố kết vững chắc bởi các hoạt động xâm nhập, phun trào vào chu kỳ Kimeri và đặc điểm kế thừa trong hoạt động kiến tạo ở Việt Nam mà trong giai đoạn Tân sính, lãnh thổ không quay lại chế độ đĩa máng mà chi diễn ra những vận động tạo lục. Dạc điểm này tạo nên tính chất kế thừa trong phát triển của các cảnh quan Việt Nam. Các cảnh quan hiện đại được cải tạo im trên nền các cảnh quan cổ và được phân hóa theo các nguyên nhân khác nhau từ cấp cao đến các cấp thấp.
Giai đoạn Tân kiến tạo được bắt đầu từ quá trình bán bình nguyên hóa kéo dài trên 40 triệu năm trong suốt Paieogen từ sau chu kỳ Kimeri, tạo nên các bề mặt bán bình nguyên cổ Paleogen trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Từ Neogen vận động Hymaiaya với các pha nâng đặc trưng xen kẽ các pha yên tĩnh, với mức độ và cường độ không đồng đều trên các vùng lãnh thổ của Việt Nam. Đây là nguyên nhân tạo nên sự phân hóa phức tạp trong hệ thống cảnh quan nhiệt đới gió mùa Việt Nam. Sau mỗi pha nâng lên, hoạt động xâm thực bóc mòn dẫn đến sự phân hủy, chia cắt các bán bình nguyên thành tạo trước đó; đến pha yên tĩnh, sông ngòi mở rộng thung lũng, bồi tụ, san bằng dẫn đến sự hình thành các bề mặt san bằng mới.