Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng tài liệu về di sản văn hóa vật thể trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông Chương 2: Các biện pháp sử dụng tài liệu về di sản văn hóa vật thể địa phương trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 10 trường trung học phổ thông tỉnh Hải Dương 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TÀI LIỆU VỀ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Quan niệm về di sản văn hóa vật thể trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông * Theo Luật di sản văn hóa số 32/2009/QH12: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.” “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.” “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.” Trong đó: “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.” “Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học.” 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.” “Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên.” “Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học.” Di sản là một nguồn nhận thức, một phương tiện trực quan quý giá trong dạy học nói riêng, giáo dục nói chung. Vì vậy, sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông có ý nghĩa rất lớn. Thứ nhất, giúp HS tiếp cận với di sản qua đó tiếp thu được những kiến thức cần thiết từ di sản.
Thứ hai, trong quá trình tiếp cận với di sản văn hoá theo sự hướng dẫn của GV, các giá trị ẩn chứa trong di sản sẽ được các em tìm hiểu. Những điều tưởng như quen thuộc sẽ trở nên hấp dẫn hơn, sống động hơn và HS sẽ có hứng thú với chúng. Từ đó, các em có động cơ học tập đúng đắn, trở nên tích cực và phấn đấu tiếp nhận kiến thức mới cũng như có thái độ và hành vi thân thiện bảo vệ di sản tốt hơn. Di sản văn hoá là một trong những phương tiện dạy học đa dạng sống động nhất.
Ẩn chứa trong di sản là những giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác nên nó có khả năng tác động mạnh tới tình cảm, đạo đức, tới việc hình thành nhân cách của HS. Chính với ý nghĩa như vậy mà từ đầu năm 2013, liên Bộ GD&ĐT và VHTTDL đã có văn bản hướng dẫn về việc sử dụng di sản văn hóa vào dạy học, được thực hiện thí điểm tại 7 địa phương: Hà Nội, TP.HCM, Bắc Giang, Phú Thọ, Quảng Ninh, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam với ba môn Sử, Địa và Âm nhạc. Cụ thể, Bộ GD&ĐT đã áp dụng thí điểm mỗi Sở GD&ĐT chọn 2 trường THCS, 2 trường THPT đưa vào giảng dạy lồng ghép ở các môn học đã được thống nhất trong học kỳ 2. Trong thời gian này, Bộ đã phối hợp với Văn phòng UNESCO tại Hà Nội kiểm tra, khảo sát và dự một số tiết học môn Sử, Địa, Âm nhạc.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Qua khảo sát cho thấy, các trường đều lồng ghép, tích hợp hiệu quả về di sản trong các môn học. Giáo viên đã chủ động sưu tầm kiến thức về di sản đưa vào bài học để giảng dạy, tạo sự sinh động và thu hút rõ rệt. Việc đưa di sản vào các bài học đã tác động đến học sinh rất rõ về tư tưởng, tình cảm đối với quê hương đất nước, về di sản và có ý thức hơn trong nhận thức, kích thích hứng thú trong học tập, gắn kiến thức học tập với thực tiễn cuộc sống. Việc tiếp cận với di sản văn hóa giúp học sinh rèn luyện kỹ năng quan sát, thu thập, xử lý thông tin, kỹ năng vận dụng kiến thức liên môn đã học để giải thích những hiện tượng, sự vật có trong các di sản văn hóa… Các môn học lồng ghép di sản được đánh giá đã góp phần thúc đẩy việc đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học.
Hướng giáo dục mới này đã góp phần khuyến khích học sinh hiểu giá trị và trải nghiệm các di sản văn hóa, trước hết là di sản xung quanh nhà trường, địa phương. Tại Hội nghị giao ban liên Bộ GD&ĐT và VHTTDL được tổ chức để đánh giá kết quả triển khai thí điểm việc sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông và xác định phương hướng triển khai năm học mới, Thứ trưởng Bộ VHTTDL Đặng Thị Bích Liên khẳng định: “Chưa đầy một năm triển khai nhưng kết quả đạt được đáng khích lệ, đánh giá cao sự sáng tạo các chủ thể là các nhà quản lý, các giáo viên… Việc đưa di sản vào dạy trong trường học cũng là cách để người địa phương biết quý trọng và bảo vệ di sản, phát huy giá trị của di sản, tạo ra nguồn lực cho địa phương, góp phần tăng trưởng GDP chung của địa phương”. Quan niệm về tài liệu di sản văn hóa vật thể và phân loại Theo các tác giả Hoàng Phê (chủ biên) trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt”, nhà xuất bản Đà Nẵng (2002) thì tài liệu “là văn bản giúp cho việc tìm hiểu một vấn đề gì đó” còn trong “Từ điển Hán Việt”, nhà xuất bản thành phố Hồ chí Minh (2003) tác giả Phan Văn Cát định nghĩa: “Tài liệu là vật phẩm cần thiết để xây dựng nên một vật phẩm khác”. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tài liệu di sản văn hóa vật thể là các văn bản, tác phẩm nói về sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
Các loại tài liệu di sản văn hóa vật thể: - Tài liệu về các di tích lịch sử - văn hóa. - Tài liệu về danh lam thắng cảnh có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học. - Tài liệu về các di vật, cổ vât, bảo vật quốc gia. Đặc điểm của kiến thức lịch sử trường trung học phổ thông Kiến thức lịch sử mang những đặc điểm rất nổi bật đó là tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, tính hệ thống và sự thống nhất giữa sử và luận.
Tính quá khứ Lịch sử là quá trình phát triển của xã hội loài người từ lúc con người hình thành đến nay. Tất cả những sự kiện và hiện tượng Lịch sử được chúng ta nhắc đến đều là những chuyện đã xảy ra, nó mang tính quá khứ. Kiến thức Lịch sử là những sự kiện hiện tượng Lịch sử đã xảy ra trong quá khứ không thể khôi phục hay làm thí nghiệm lại được. Và như vậy, trong việc giảng dạy lịch sử có những khó khăn nhất định.
GV phải làm sao để HS hình dung tưởng tượng, tái tạo lại sự kiện, hiện tượng lịch sử đúng như nó từng tồn tại, song xét từ góc độ khác, nó cũng mang lại cho việc giảng dạy Lịch sử những ưu điểm mà các bộ môn khác không thể có được. Chẳng hạn, nó rất có ích trong việc chúng ta bồi dưỡng và phát triển trí tưởng tượng của học sinh. Tính không lặp lại Kiến thức lịch sử nhìn chung mang tính không lặp lại về thời gian và cả không gian. Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra trong một thời gian và không gian nhất định.
Không có một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào hoàn toàn giống nhau, mà là sự kế thừa, phát triển, "sự lặp lại trên cơ sở không lặp 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Chính điều này bắt buộc các nhà giảng dạy lịch sử khi trình bày một sự kiện, hiện tượng nào đó trong lịch sử phải xem xét tính toàn diện và cụ thể cả về thời gian và không gian nảy sinh hiện tượng đó. Tính cụ thể Lịch sử của mỗi nước, mỗi dân tộc đều có diện mạo riêng do những điều kiện riêng quy định. Mặt khác các quốc gia, các dân tộc khác nhau sống trên những khu vực khác nhau, tuy bị tác động của những quy luật chung trải qua quá trình phát triển, trình độ sản xuất không ngừng nâng cao, hình thái xã hội không ngừng phát triển từ thấp đến cao, đời sống văn hóa tinh thần của con người ngày càng phong phú, đa dạng nhưng tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc không hoàn toàn giống nhau.
Ví dụ chế độ phong kiến ở Anh khác với chế độ phong kiến ở Pháp, ở Trung Quốc. Chính đặc điểm này đòi hỏi việc trình bày các sự kiện, hiện tượng lịch sử càng cụ thể bao nhiêu, càng sinh động bấy nhiêu thì càng hấp dẫn bấy nhiêu. Tính hệ thống (hay còn gọi là tính logic lịch sử) Khoa học lịch sử vừa bao gồm các sự kiện hiện tượng về cơ sở kinh tế, đấu tranh xã hội, vừa bao gồm cả nội dung của kiến trúc thượng tầng, tình hình sản xuất cả quan hệ sản xuất. Nội dung tri thức lịch sử như vậy rất phong phú, đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài người, bao gồm cả chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa nghệ thuật, khoa học kỹ thuật.
SGK lịch sử ở trường phổ thông tuy giản đơn nhưng cũng phải bao quát được các mặt đó.