Luận Văn Thạc Sĩ: Sự Đổi Mới Trong Phong Cách Thơ Trào Phúng Chính Trị Việt Nam Đầu Thế Kỷ XX

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu văn học sự đổi mới trên bình diện phong cách của bộ phận thơ trào phúng chính trị trong văn học, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2011

88
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Sự Đổi Mới Trong Thơ Trào Phúng Chính Trị Việt Nam Đầu Thế Kỷ XX

Thơ trào phúng chính trị Việt Nam đầu thế kỷ XX là một bộ phận quan trọng trong văn học dân tộc. Sự đổi mới trong thể loại này không chỉ phản ánh những biến động xã hội mà còn thể hiện sự chuyển mình của tư tưởng và nghệ thuật. Thơ trào phúng đã trở thành một công cụ sắc bén để phê phán các vấn đề chính trị, xã hội, đồng thời thể hiện tiếng nói của nhân dân trước những bất công. Những tác phẩm tiêu biểu từ giai đoạn này đã góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn học Việt Nam.

1.1. Đặc Điểm Của Thơ Trào Phúng Chính Trị

Thơ trào phúng chính trị mang những đặc điểm nổi bật như sự châm biếm, mỉa mai và phê phán sâu sắc. Nó không chỉ đơn thuần là tiếng cười mà còn là tiếng nói của sự phản kháng, thể hiện sự bất mãn với chế độ. Các nhà thơ đã sử dụng ngôn ngữ sắc bén để vạch trần những bất công trong xã hội.

1.2. Vai Trò Của Tác Giả Trong Sự Đổi Mới

Các tác giả như Nguyễn Thiện Kế, Kép Trà đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của thơ trào phúng. Họ không chỉ là những người sáng tác mà còn là những người dẫn dắt tư tưởng, tạo ra những tác phẩm có sức ảnh hưởng lớn đến xã hội và văn học thời kỳ này.

II. Những Thách Thức Đối Với Thơ Trào Phúng Chính Trị Việt Nam

Trong bối cảnh chính trị phức tạp đầu thế kỷ XX, thơ trào phúng phải đối mặt với nhiều thách thức. Sự kiểm soát của chính quyền thực dân và những định kiến xã hội đã tạo ra rào cản lớn cho các nhà thơ. Tuy nhiên, chính những thách thức này lại thúc đẩy sự sáng tạo và đổi mới trong thể loại thơ này.

2.1. Sự Kiểm Soát Của Chính Quyền

Chính quyền thực dân đã áp đặt nhiều quy định nghiêm ngặt đối với văn học nghệ thuật, khiến cho các nhà thơ phải tìm cách lách luật để truyền tải thông điệp của mình. Điều này đã tạo ra những tác phẩm mang tính ẩn dụ sâu sắc.

2.2. Định Kiến Xã Hội Đối Với Thơ Trào Phúng

Định kiến xã hội về thơ ca và nghệ thuật cũng là một thách thức lớn. Nhiều người vẫn coi thơ trào phúng là thể loại không nghiêm túc, điều này đã khiến cho các nhà thơ phải nỗ lực hơn để khẳng định giá trị của thể loại này.

III. Phương Pháp Đổi Mới Trong Thơ Trào Phúng Chính Trị

Sự đổi mới trong thơ trào phúng chính trị không chỉ đến từ nội dung mà còn từ hình thức thể hiện. Các nhà thơ đã áp dụng nhiều phương pháp sáng tạo để làm nổi bật thông điệp của mình, từ việc sử dụng ngôn ngữ phong phú đến việc kết hợp các thể loại khác nhau.

3.1. Sử Dụng Ngôn Ngữ Sắc Bén

Ngôn ngữ trong thơ trào phúng chính trị thường rất sắc bén và giàu hình ảnh. Các nhà thơ đã khéo léo sử dụng từ ngữ để tạo ra những hình ảnh mạnh mẽ, gây ấn tượng sâu sắc với người đọc.

3.2. Kết Hợp Các Thể Loại Nghệ Thuật

Nhiều tác phẩm thơ trào phúng đã kết hợp với các thể loại nghệ thuật khác như kịch, tiểu thuyết, tạo ra những tác phẩm đa dạng và phong phú. Điều này không chỉ làm tăng sức hấp dẫn mà còn mở rộng khả năng truyền tải thông điệp.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Thơ Trào Phúng Chính Trị

Thơ trào phúng chính trị không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn có giá trị thực tiễn trong việc phản ánh và phê phán xã hội. Những tác phẩm này đã góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về các vấn đề chính trị, xã hội, đồng thời khuyến khích tinh thần đấu tranh của nhân dân.

4.1. Tác Động Đến Nhận Thức Cộng Đồng

Thơ trào phúng đã giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về các vấn đề xã hội, từ đó khuyến khích sự tham gia của người dân vào các hoạt động xã hội và chính trị.

4.2. Khuyến Khích Tinh Thần Đấu Tranh

Nhiều tác phẩm thơ trào phúng đã khơi dậy tinh thần đấu tranh của nhân dân, khuyến khích họ đứng lên chống lại áp bức và bất công. Điều này đã tạo ra một làn sóng mạnh mẽ trong xã hội.

V. Kết Luận Về Sự Đổi Mới Trong Thơ Trào Phúng Chính Trị

Sự đổi mới trong thơ trào phúng chính trị Việt Nam đầu thế kỷ XX không chỉ là một hiện tượng văn học mà còn là một phần quan trọng trong lịch sử văn hóa dân tộc. Những tác phẩm này đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc và góp phần định hình tư tưởng văn học Việt Nam.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Thơ Trào Phúng

Thơ trào phúng chính trị đã khẳng định được vị trí của mình trong văn học Việt Nam, không chỉ là một thể loại giải trí mà còn là một công cụ mạnh mẽ để phê phán xã hội.

5.2. Hướng Đi Tương Lai Của Thơ Trào Phúng

Trong bối cảnh hiện đại, thơ trào phúng vẫn tiếp tục phát triển và đổi mới, phản ánh những vấn đề mới của xã hội. Điều này cho thấy sức sống mãnh liệt của thể loại này trong văn học Việt Nam.

17/07/2025
Luận văn thạc sĩ văn học sự đổi mới trên bình diện phong cách của bộ phận thơ trào phúng chính trị trong văn học việt nam những thập niên đầu tiên của thế kỷ xx

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho những tràng cười giòn giã tiếp theo trong thơ Tú Xương, Kép Trà, Phan §iện, Từ Diễn Đồng… khi thực tại ngày càng nảy sinh nhiều kẻ mượn danh Phật để kiếm lợi. Đặc biệt hơn, ngoài giá trị nhân đạo sâu sắc, thơ bà lên tiếng bênh vực cho quyền sống, quyền hạnh phúc của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến, nhiều bài thơ của bà còn có ý nghĩa phê phán những thói đời giả dối, bịp bợm nhân cách đạo đức mọi hạng người trong xã hội, kể cả bọn vua chúa, sư s·i, trÝ thức rởm phong kiến. Giọng điệu, cách thể hiện của Xuân Hương rất gần với thơ ca dân gian ở sự bình dị, mộc mạc nhưng sâu sắc qua những hình ảnh ẩn dụ, mang ý nghĩa biểu tượng. Bài thơ: “VÞnh cái quạt”, với việc nhấn mạnh hành vi “Chúa dấu vua yêu một cái này” phê phán thói đạo đức giả của vua, chúa phong kiến.

bà cốt” §¶ kích bọn sư sãi, giả danh vô đạo đức… 16 Bên cạnh Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858) và Cao Bá Quát (1809 - 1854) một người chuyên thơ Nôm, một người chuyên chữ Hán, vốn xưa nay không được coi là nhà thơ trào phúng. Song qua tìm hiểu thơ văn của hai ông, đặc biệt qua tập “Thơ văn Nguyễn Công Trứ ” ( NXB văn học Hà Nội năm 1983), lại thấy có tới 60 bài mang sắc thái trào phúng trên tổng số 108 bài, nội dung trµo phúng đa dạng, phong phú như: Tự trào: 12/60; châm biếm thói đời: 16/60, giễu cợt quan niệm sống của nhà nho 20/60, cười cợt tạo hóa 5/60, chơi chữ hài hước: 5/60…. TrÇn ThÞ Hoa Lª) Qua khảo sát trên ta thấy Nguyễn Công Trứ đặc biệt hứng thú trong việc trào phúng “thói đời đen bạc” cũng như thế lực đồng tiền và đặc biệt quan niệm sống bó buộc của nhà nho. Bµi h¸t nãi “ VÞnh ®ång tiÒn” cã thÓ coi lµ tiªu biÓu cho phong c¸ch trµo phóng NguyÔn C«ng Trø bëi giäng ®iÖu hµi h-íc phãng tóng, l¹i còng rÊt mØa mai r¸t mÆt.

H«i tanh ch¼ng thó vÞ g× ThÕ mµ ai còng kÎ v× ng-êi yªu T¹o vËt bÊt thÞ v« ®Ó sù Bßn chµi ra mét thø quÊy ch¬i §ñ vu«ng, trßn, t-îng ®Êt, t-îng trêi Kh¼m ho¹, phóc, yªn nguy, tö ho¹t. Trong th¬ ch÷ H¸n Cao B¸ Qu¸t còng cã tíi 32 bµi trµo phóng víi tæng sè 156 bµi, bao gåm nhiÒu néi dung trµo phóng nh- : tù trµo 17/32, ch©m biÕm chÝnh trÞ 8/32, nh×n ®êi ng¹o nghÔ 4/32 , con mắt hµi h­íc 5/32 … Ngoµi ra cßn NghÌ T©n (NguyÔn Quý T©n 1811- 1856) víi t¸c phÈm : “ Tuý tiªn thi tËp” ch-a ®-îc s-u tÇm, hiÖn cßn l-u l¹i mét sè bµi th¬ N«m trµo phóng ®-îc gi¸o s- Vò Ngäc Kh¸nh s­u tÇm vµ in trong tËp “ Th¬ v¨n trµo phóng ViÖt Nam”. Nh×n chung, v¨n häc giai ®o¹n nµy cµng ngµy cµng thiªn vÒ ý phóng thÝch x· héi, c-êi nh¹o nh÷ng sù trí trªu cña ng-êi ®êi, cña cuéc m-u sinh hoÆc cña nÒn chÝnh trÞ suy tho¸i. NghÖ thuËt trµo phóng nghiªng vÒ tiÕng c-êi hµi h-íc mØa mai, lèi nãi bãng giã, ch-a ®Õn møc ch©m biÕm trùc tiÕp gay g¾t.

Giäng ®iÖu m¹nh mÏ vµ t¸o b¹o cã ë hai t¸c gi¶ Hå Xu©n H-¬ng vµ NguyÔn 17 C«ng Trø. Còng cã thÓ do quan niÖm v¨n ch-¬ng nhµ nho coi träng tÝnh tr÷ t×nh, ®iÓn nh· cña th¬ ca. Th¬ trµo phóng trung ®¹i ViÖt Nam xuÊt hiÖn muén mµng, ph¸t triÓn chËm ch¹p, kh«ng cã ¶nh h-ëng s©u réng trong c«ng chóng nh- th¬ ca trµo phóng d©n gian. Song kh«ng thÓ phñ nhËn gÝa trÞ cña nh÷ng nÐt c-êi ph¶ng phÊt ®©y ®ã ®· Èn hiÖn trong th¬ ch÷ H¸n vµ ch÷ N«m c¸c thÕ kØ XIV, XVI … vµ tiÕng c-êi râ nÐt tõ thÕ kØ XVIII lµm nªn tiÒn ®Ò thiÕt yÕu cho dßng th¬ trµo phóng ph¸t triÓn lín m¹nh, ®¹t thµnh tùu rùc rì khi xuÊt hiÖn nh÷ng yÕu tè x· héi ®Æc biÖt vµo nöa sau thÕ kØ XX.TiÒn ®Ò xã hội Cuối thế kỷ XIX, tình hình xã hội có ý nghĩa biến đổi căn bản, từ nhiều góc độ: Kinh tế, chính trị, văn hóa cũng như tín ngưỡng.

Nó gắn liền với những bước thăng trầm của triều đại phong kiến Việt Nam cuối cùng; Thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình nhà Nguyễn từng bước đầu hàng, bán nước làm tay sai cho thực dân Pháp, những biến động âm Ø trong lòng đất nước trên con đường chuyển từ chế độ trung đại Phương Đông sang hình thái xã hội chịu sức ép chính trị và ảnh hưởng của văn hóa Phương Tây. Xã hội Việt Nam từng bước tư sản hóa, quá trình đô thị hóa phát triển, hình thành các đô thị dẫn đến sự ra đời của nhiều tầng lớp xã hội trong đó có trí thức tư sản, tiểu tư sản. Vào những năm đầu của thế kỷ XX, các nhà nho thất thế, cũng như các nhà nho gặp thời, cùng với toàn xã hội đã lần đầu tiên tiếp xúc với một luồng gió mới theo chân người Pháp đến luồng gió vừa văn minh, vừa cÆn bã “Văn minh” du nhập qua con đường “Tân thơ”, còn “Cặn bã” chính là hậu quả của chính sách khai thác thuộc địa ngày càng tàn khốc, dã man của chế độ thực dân. Các tầng lớp mới với đời sống đô thị hóa cũng hoàn toàn mới lạ, đương nhiên nảy sinh những tâm lý xã hội khác trước, lối sống, thói quen, quan niệm cũng khác trước, không phù hợp với truyền thống.

Xã hội Việt Nam trải qua một cuộc đổi thay tận gốc rễ và không thuận chiều. Các nhà nho từng thể nghiệm trí lực của đất nước trước nạn đụng độ “tàu thiếc, tàu đồng, súng nổ” nay lại chứng kiến nền Hán học cổ truyền bị ép chết với lối ch-íng tai gai mắt phô bày một cách lố lăng, kệch cỡm. Đặc biệt, việc chính quyền mới chấm dứt việc thi chữ Hán ở 18 Bắc Kỳ vào năm 1915 và ở Trung Kỳ 1919 đã đặt tầng lớp nhà nho trước tình trạng “cáo chung”. Tuy nhiên, tư tưởng Nho giáo chưa vì thế mà chấm dứt ngay, bởi cả thế hệ nhà nho còn sống đến mấy thập niên sau đó của thế kỷ XX.

Bên cạnh đó, tư tưởng Tây học đã hình thành và chiếm ưu thế trong xã hội. Mâu thuẫn bùng phát ở nhiều phương diện: ở tầng lớp cũ – mới, giữa các luồng tư tưởng, nền văn hóa. Những hiện tượng “dựa gió bẻ măng”, “đục nước, béo cò”, nhố nhăng, điên đảo, mất đạo lý, tình người… Tất cả khiến nhà nho bất bình, tìm đến vũ khí duy nhất còn lại trong tay họ là tiếng cười. Tiếng cười bật lên nhằm từ chối thực tế phũ phàng, chối bỏ thực trạng bế tắc, tự trấn an tinh thần, chống lại việc đồng hóa - mua chuộc của các thế lực đến từ hoặc theo chân Phương Tây, cứu vớt truyền thống.

Cơ cấu giai tầng phân hóa, cũ mới đan xen, xáo trộn, dẫn đến sự biến đổi trong nhân sinh quan, quan niệm sáng tác và đội ngũ tác giả cũng như độc giả thay đổi cả về số lượng và chất lượng. Trên đây là những tiền đề xã hội - văn hóa ở bề sâu tư tưởng làm nở rộ tiếng cười cña thơ trào phúng chính trị đầu thế kỷ XX. Cũng còn phải kể đến một số điều kiện xã hội cụ thể ở phương diện hình thức. Ảnh hưởng to lớn, đáng kể đó là thành tựu báo chí những năm đầu của thế kỷ XX.

Một loạt các tòa soạn báo, tạp chí xuất hiện nối tiếp từ Nam ra Bắc. Trung Kỳ có “Tiếng dân”, Bắc kỳ phong phú hơn cả với các báo Đại Nam (Đăng cổ tùng báo); Ngày nay, Phong Hóa, Tiểu thuyết thứ bảy, Đông Pháp thời báo, các tạp chí Đông Dương, Nam Phong, An Nam, Tri Tân, Thanh Nghị… Mục đích chính trị cũng như giá trị ảnh hưởng của các báo và tạp chí có thể khác nhau, song tất cả có điểm chung là thực hiện vai trò “kết nối” giữa thơ ca trào phúng với độc giả, vai trò “tuyên truyền cổ động” này ở các thế kỷ trước ch-a có. “Nam Phong T¹p ChÝ” là cơ quan xuất bản đầu tiên phát hành rộng rãi trong công chúng những tác phẩm thơ Nôm của Nguyễn Khuyến và Tú Xương, mà trước đó mới chỉ lưu hành quanh hai vùng Yên §æ, Vị Xuyên. Rồi liên tiếp suốt 30 số tạp chí trong vòng 14 năm (1918 - 1932) trên mục Văn uyển, Nam Phong đã giới thiệu cho chúng ta khoảng 120 tác giả với hơn 400 bài thơ trào phúng.

19 Nói tóm lại, ở phương diện xã hội – văn hóa, đây là thời kỳ tập trung nhiều mâu thuẫn, các mâu thuẫn đều lên tới đỉnh điểm mà chưa có hướng giải quyết tạo nên những nghịch lý trên nhiều phương diện của đời sèng chính trị, văn hóa, xã hội. Tiếng cười châm biếm cất lên từ giới trí thức cho đến giới bình dân trở thành một thứ vũ khí đắc lực, phương thuốc hữu hiệu chống lại cái ác, cái xấu. Diện mạo thơ trào phúng chính trị Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX Việc thực dân Pháp xâm lược, chiếm nước ta, áp đặt chế độ thống trị thực dân, uy hiếp vận mệnh đất nước và đời sống nhân dân, tác động sâu sắc đến mọi tầng lớp xã hội và do đó gây một chuyển biến quan trọng trong văn học nước ta từ 1858. Đất nước từ độc lập trë thành nô lệ, từ thời bình sang thời chiến.

Điều đó thấy rõ trong cả văn học thành văn, văn học dân gian. Bàn về lịch sử văn học, theo PGS.TS Trần Ngọc Vương là: “Vạch ra sự vận động, sự chuyển biến, sự phát triển của một đối tượng là văn học; bàn về văn học thì phải căn cứ vào tác phẩm, vào đời sống văn học, liên quan đến nó là tác giả, là thể loại, là nội dung, hình thức, là thị hiếu công chúng, là môi trường…”. Bên cạnh văn học yêu nước quan hệ trực tiếp với cuộc đấu tranh dân tộc, với đời sống chính trị, xã hội nên ta dễ thấy 3 chặng đường của lịch sử đấu tranh cho độc lập dân tộc. - Văn học yêu nước của v¨n thân Cần Vương.

- Văn học yêu nước cña các chí sĩ Duy Tân. - Văn học yêu nước chịu ảnh hưởng tư tưởng Cộng sản và Đảng cộng sản. thì văn học trào phúng ra đời cùng các tên tuổi chói loà trang văn học như: Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Thiện Kế (1858- 191), Kép Trà (1873- 1928), Phan Điện (1874-1945), Tõ DiÔn Đồng (1866- 1922) cũng là hiện tượng mới. Thơ trào phúng hình thành chậm hơn, vào cuối thế kỷ XIX, chỉ phát triển thành một dòng vào đầu thế kỷ XX, ở miền Nam có thể kể thêm Cử Trị, Nhiêu Tâm, Học Lạc, … mà đặc điểm sáng tác có khác với những Tú Mỡ, Đồ Phồn …sau này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ