CHƯƠNG 1: PHẠM TRÙ THỜI GIAN TRONG NGÔN NGỮ VÀ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN Ngay từ thời khởi nguyên, thời gian vốn đã là đề tài luôn kích thích mạnh mẽ óc suy tưởng của các triết gia và khiến họ đi đến nhận định rằng thời gian không những là tác nhân liên hệ đến sự hình thành của vũ trụ mà nó còn là một nhân tố phổ quát chi phối đến vạn vật trong cuộc sống. Dần dần với ảnh hưởng của những trào lưu tư tưởng mới người ta còn xem thời gian là một trong những yếu tố quyết định các hình thái đa dạng của mọi hiện tượng trong thiên nhiên. Phạm trù thời gian có thể tiếp cận từ góc độ triết học, tâm lý học, riêng đối với ngôn ngữ, thời gian là một phạm trù ngữ nghĩa phổ quát của ngôn ngữ. Như vậy, thời gian là một khái niệm để diễn tả trình tự xảy ra của các sự kiện, biến cố và khoảng kéo dài của chúng.
Thời gian được xác định bằng số lượng các chuyển động của các đối tượng có tính lặp lại (sự lượng hoá các chuyển động lặp lại) và thường có một thời điểm mốc gắn với một sự kiện nào đó. Thời gian chỉ có một chiều duy nhất (cho đến nay được biết đến) đó là từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Do sự vận động không ngừng của thế giới vật chất từ vi mô đến vĩ mô (và kể cả trong ý thức, nhận thức) mà trạng thái và vị trí (xét theo quan điểm động lực học) của các vật không ngừng thay đổi, biến đổi. Chúng luôn có những quan hệ tương hỗ với nhau và vì thế "vị trí và trật tự" của chúng luôn biến đổi, không thể trở về với trạng thái hay vị trí trước đó được.
Đó chính là trình tự của thời gian. Phạm trù thời gian + Thời gian là một phạm trù tư duy, phạm trù nhận thức: Trong vô vàn những điều tri nhận của con người về tự nhiên và xã hội, thời gian được tri nhận như một phạm trù tư duy, phạm trù ý niệm, phản ánh nhận thức của con người về sự tồn tại của sự vật trong thế giới khách quan, một thế giới vật chất vận động, biến đổi và phát triển liên tục không ngừng theo dòng thời gian. Thời gian là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất, phạm trù thời gian rất rộng, được tri nhận qua các khía cạnh sau: Trục thời gian được chia thành những thời đoạn tách biệt với nhau: quá khứ, hiện tại tương lai ( cách xác định thời điểm). Cách đo khoảng cách, chiều dài thời gian, các định lượng thời gian, biểu thị mối quan hệ giữa các thời điểm cần định vị nằm ở bên ngoài thời gian.
Cách nhìn nhận sự việc, tình huống trong tính tổng thể, trọn vẹn của nó, biểu thị mối quan hệ bên trong thời gian. Ý niệm thời gian, cách đánh giá về thời gian từ phía chủ thể để phát ngôn, ở các mặt: lâu/mau, nhanh/chậm, sớm/muộn, xa/gần Các ý nghĩa của các khía cạnh trên có quan hệ quy định lẫn nhau tuy đối lập với nhau, nhưng chúng đều là ý nghĩa về “số”; thời quá khứ đối lập với nhau thời hiện tại và tương lai, nhưng cả ba đều là ý nghĩa về “thời”. Có thể coi “số” hay “thời” là những ý nghĩa ngữ pháp chung bao trùm lên nhưng ít nhất hai ý nghĩa ngữ pháp bộ phận đối lập nhau như vậy chính là phạm trù ngữ đối lập nhau, cũng chính là phạm trù ngữ pháp, là phạm trù bao gồm GIỐNG - SỐ - CÁCH của danh từ và phạm trù NGÔI - THỜI - THỂ của động từ [56, 2003, tr. Phạm trù THÌ THÌ (tense) [50, tr .272-373] là phạm trù ngữ pháp liên quan đến thời gian.
Mỗi ngôn ngữ đều có thể biểu hiện sự phân biệt đa dạng về thời gian. Chẳng hạn, trong tiếng Việt, có thể phân biệt: hiện nay, ngày mai, ba hôm nữa, hai hôm sau. Nhưng phạm trù THÌ là sự ngữ pháp hóa thời gian, tức là phạm trù THÌ liên quan đến những môi quan hệ về thời gian trong chừng mực chúng được thể hiện bằng những đối lập có tính hệ thống về mặt ngữ pháp. Có ngôn ngữ có phạm trù THÌ, có ngôn ngữ không có phạm trù THÌ.
Trong hầu hết các ngôn ngữ có phạm trù THÌ, phạm trù này được xem xét ở vị từ. Vì thế, người ta nói THÌ là phạm trù ngữ pháp của vị từ. Các ngôn ngữ có phạm trù THÌ thường phân biệt ba thời, đó là: thời hiện tại, thời quá khứ và thời tương lai. Thời hiện tại (present tense) chỉ hành động xảy ra ở thời điểm phát ngôn hoặc một thực tế tồn tại không phụ thuộc vào thời gian.
Thời quá khứ (past tense) chỉ hành động xảy ra trước thời điểm phát ngôn. Thời tương lai (future tense) chỉ hành động xảy ra sau thời điểm phát ngôn. Theo quan niệm của một vài trường phái, tiếng Anh chỉ có hai phạm trù THÌ: phạm trù THÌ non-past “phi quá khứ” chủ yếu được dùng để nói về thời gian hiện tại và tương lai và phạm trù THÌ past “quá khứ”, chủ yếu được dùng để nói về thời gian quá khứ [50, tr .272-273] Do đó, các hình thức của vị từ tiếng Anh nói chung tạo thành cặp: She lives in London. / She lived in London.
She is living in London. / She was living in London. She has lived in London. / She had lived in London.
She has been living in London. / She had been living in London. She is going to live in London. / She was going to live in London.
16 She will live in London. / She would live in London. She can live in London. / She could live in London.
Thời của vị từ trong tiếng Anh được thể hiện bằng phụ tố hoặc bằng trợ vị từ: I study every day. I studied last night. I will study tomorrow. Hệ thống các thời trong các ngôn ngữ khác nhau rất lớn, cụ thể là tiếng Việt không có phạm trù THÌ theo nghĩa THÌ là ý nghĩa có chức năng định vị một biến cố, một trạng thái hay một quá trình được tiếp nhận tương ứng với một thời điểm hay một thời đoạn được chọn làm mốc.
THÌ (tense) cần được hiểu là hiện tượng "ngữ pháp hóa" các ý nghĩa về thời gian liên quan đến sự tình trong câu, chứ không phải là vấn đề thời gian thuần túy. Đương nhiên câu chuyện thời gian của sự tình luôn luôn có mặt trong các ngôn ngữ, nhưng không phải ngôn ngữ nào cũng "ngữ pháp hóa" nó thành những quy tắc ngữ pháp. THÌ là cách định vị được ngữ pháp hóa của một sự tình trong thời gian [51, tr. Cách diễn đạt của các ngôn ngữ có THÌ là cách diễn đạt trực chỉ (deictic), nghĩa là lúc nào cũng cần lấy một điểm hay thời điểm nào đó để làm điểm mốc hay căn cứ để định vị sự tình [56, tr.
Thông thường các ngôn ngữ có THÌ lấy thời điểm phát ngôn để làm điểm mốc, tức là lấy điểm quy chiếu cố định trong thời gian (tuy nhiên cũng có những ngôn ngữ lấy thời điểm khác làm điểm mốc nhưng điểm mốc này lại được quy chiếu vào thời điểm phát ngôn). THÌ được thực hiện việc định vị một số sự tình so với một số điểm quy chiếu cố định trong thời gian đó bằng cách chỉ ra một cái hướng và một khoảng cách nào đó [56, tr. 17 Chúng ta có thể xác định thời điểm diễn ra sự kiện theo mối quan hệ tương quan giữa các sự kiện, căn cứ vào tiêu điểm hay điểm mốc được dùng để định vị. Ví dụ lấy thời điểm phát ngôn (hiện tại) làm tiêu điểm cho việc định vị thời gian các sự kiện, THÌ sẽ có ba ý nghĩa: 1.
Ý nghĩa về một hành động diễn ra trước thời điểm phát ngôn, được gọi là ý nghĩa quá khứ (biểu thị qua thời quá khứ). Ý nghĩa về một hành động diễn ra ngay tại thời điểm phát ngôn được gọi là ý nghĩa hiện tại (biểu thị qua thời hiện tại). Ý nghĩa về một hành động diễn ra sau thời điểm phát ngôn được gọi là ý nghĩa tương lai (biểu thị qua thời tương lai). Các ý nghĩa quá khứ, hiện tại, tương lai thường được ngữ pháp truyền thống châu Âu diễn bằng ba thời (quá khứ, hiện tại, tương lai).
Do đó, có thể nói xác định tiêu điểm thời gian chính là xác định thời gian diễn ra sự kiện, xác định thời điểm phát ngôn cũng như xác định mối quan hệ giữa thời gian diễn ra sự kiện và thời điểm phát ngôn. Phạm trù THỂ THỂ (aspect) là một phạm trù ngữ pháp biểu hiện sự phân biệt trong cấu trúc thời gian của một sự kiện. Hoàn toàn độc lập với sự định vị của nó trong thời gian, mỗi sự kiện có thể được coi là một sự cố riêng biệt hay như một loạt sự cố được lập lại và cũng có thể được coi như bắt đầu, tiếp diễn hay kết thúc. Tất cả những cái đó là những kiểu của THỂ.
Trong tiếng Anh, người ta phân biệt thể hoàn thành (perfective aspect) với thể chưa hoàn thành (imperfective aspect). Phạm trù THỂ phải được phân biệt cẩn thận với phạm trù THÌ, mặt dù biểu hiện hình thức của hai phạm trù này quyện vào nhau sâu sắc.276] 18 Ý nghĩa THỂ là ý nghĩa về sự vận động, sự tiến triển bên trong của sự tình trong một khoảng thời gian. Như vậy, THỂ là hình thức diễn đạt ngữ pháp hóa của cấu trúc thời gian bên trong một sự tình hay một trạng thái (kết thúc hay đang tiếp diễn, diễn ra một lần hay nhiều lần hoặc diễn thường xuyên hay chỉ trong một khoảng khắc), bất kể sự tình hay trạng thái đó được xác định như thế nào trong thời gian cũng như không cần quy chiếu thời gian (time reference) trong phát ngôn [56, tr. Những luận điểm trên là nền tảng để chúng tôi có thể tiến hành việc phân tích, miêu tả, cũng như so sánh - đối chiếu phương tiện biểu hiện ý nghĩa thời gian trong tiếng Việt và tiếng Anh.
Ngôn ngữ học Tri nhận và ý niệm thời gian trong Ngôn ngữ học Tri nhận 1. Ngôn ngữ học Tri nhận Ngôn ngữ học Tri nhận (Cognitive Linguistics) là một khuynh hướng ngôn ngữ học ra đời vào những năm 80 của thế kỷ XX với nhiệm vụ trung tâm là nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy của con người, nghiên cứu cách con người nhận thức thế giới (thế giới thực tại, thế giới phi thực tại) qua lăng kính ngôn ngữ và văn hóa.