CHƯƠNG 1. NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG NHÀ THỜ ĐỨC BÀ PARIS VÀ TIẾNG CHIM HÓT TRONG BỤI MẬN GAI Đối với tác phẩm tự sự, nghệ thuật trần thuật là một trong những nhân tố vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm. Cách thức trần thuật của người kể không chỉ đơn thuần là cách kể chuyện sao cho câu chuyện trở nên đậm đà, ý vị, mà đó còn là cách thức để nhà văn lí giải sự vật, hiện tượng một cách sâu sắc, hiệu quả và thuyết phục. Diện mạo và phong cách nghệ thuật của người trần thuật được tạo nên từ sự kết hợp của các yếu tố như ngôi trần thuật, điểm nhìn nghệ thuật, ngôn ngữ kể chuyện và giọng điệu nghệ thuật.
Chính vì vậy, khi so sánh nghệ thuật trần thuật trong hai tác phẩm, chúng ta phải đi vào phân tích từng yếu tố này để rút ra một cách nhìn nhận xác đáng và trọn vẹn hơn. Trần thuật ở ngôi thứ ba trong Nhà thờ Đức Bà Paris và Tiếng chim hót trong bụi mận gai Có thể nói trần thuật theo ngôi thứ ba là phương thức phổ biến của văn học nhân loại và sáng tác của Victor Hugo cùng Colleen Mc Cullough cũng không nằm ngoài xu hướng chung đó. Trong cuốn Lý luận và phê bình văn học, Trần Đình Sử đã đưa ra sự phân biệt giữa người kể chuyện và người trần thuật trong tác phẩm văn học: “Trong những truyện kể mà người kể chuyện không xuất hiện trực tiếp – cái được gọi bằng thuật ngữ truyện kể ngôi thứ ba như đã nói ở trên, có một kiểu mà người kể có vị trí khác với người tiêu điểm hoá. Trường hợp này, người kể chuyện ẩn, tựa vào điểm nhìn nhân vật để kể” [26;60].
“Tuỳ từng trường hợp nên gọi người trần thuật ở ngôi thứ ba là: 1) “truyện kể theo điểm nhìn nhân vật”, 2) “truyện kể có người kể hàm ẩn” và “người kể chuyện ở ngôi thứ ba” hay “người kể chuyện là nhân vật ” là “người kể chuyện hàm ẩn” (26; 49). Trong tác phẩm trần thật ở ngôi thứ ba, người kể chuyện không trực tiếp tham gia vào diễn biến câu chuyện. Thông thường người kể chuyện này có quyền năng vô hạn như một “thượng đế” trong toàn câu chuyện của mình, anh ta là người “biết tuốt”, có khả năng thâu tóm thế giới hiện thực của tác phẩm. 8 Trong Nhà thờ Đức Bà Paris và Tiếng chim hót trong bụi mận gai đều sử dụng trần thuật ở ngôi thứ ba, người trần thuật chính là tác giả.
Tuy nhiên ở hai tác phẩm, cùng nói về một đề tài nhưng cách xây dựng nội dung khác nhau, mỗi nhà văn đem lại một sắc thái riêng, mang đậm phong cách của từng người viết. Cả Nhà thờ Đức Bà Paris và Tiếng chim hót trong bụi mận gai đều là hai cuốn tiểu thuyết mang đậm chất lịch sử, Nhà thờ Đức Bà Paris là câu chuyện lấy lịch sử làm bối cảnh, một “thiên anh hùng ca viết bằng văn xuôi” (Nhị Ca). Victor Hugo lấy cảm hứng sau cuộc viếng thăm nhà thờ Đức Bà Paris cùng với những nghiên cứu về kiến trúc và điêu khắc kì lạ của ngôi nhà thờ lớn, tác giả đã hình dung về toàn cảnh đô thành Paris cổ xưa của thế kỉ XV, sưu tầm những tài liệu chuyên môn kết hợp với trí tượng tượng của một nhà văn lãng mạn, Victor Hugo đã viết nên cuốn tiểu thuyết vang danh lịch sử này. Câu chuyện được dẫn dắt bởi người trần thuật ở ngôi thứ ba để thuyết phục được người đọc về một câu chuyện cách xa thời đại của người viết bốn thế kỉ, nếu như người kể ở ngôi thứ nhất thì câu chuyện sẽ khó để bạn đọc chấp nhận khi các nhân vật hoàn toàn được xây dựng bằng sự tưởng tượng của tác giả mà không có bất cứ sự trải nghiệm hay liên quan của tác giả đến câu chuyện.
Việc lựa chọn trần thuật ở ngôi thứ ba hoàn toàn thể hiện được những ý đồ mà người viết muốn dẫn dắt người đọc trong câu chuyện của mình. Tiếng chim hót trong bụi mận gai là cuốn tiểu thuyết về lịch sử nửa thế kỉ của một gia đình ba thế hệ, gia đình Cleary. Trần thuật ở ngôi thứ ba giúp cho tác phẩm được quan sát một cách đầy đủ và bao quát mà không phải bị giới hạn tầm nhìn khi kể ở ngôi thứ nhất hay ngôi thứ hai. Đáp ứng được yêu cầu của thể loại tiểu thuyết Xaga, hình thức văn xuôi cổ có tính anh hùng ca, kể chuyện một cách điềm đạm về những con người hùng dũng mà ngoài trần thuật ngôi thứ ba thì khó có hình thức lựa chọn nào phù hợp.
Như đã nói, tuy cùng chung đề tài tình yêu và tôn giáo thế nhưng cách thể hiện của mỗi nhà văn trong tác phẩm của mình lại có những nét độc đáo mang đậm phong cách của mỗi tác giả. Nhà thờ Đức Bà Paris, tác giả kể lại câu chuyện của những con người trong thành phố Paris, bên cạnh ngôi nhà thờ Đức Bà, những sự kiện diễn ra trong thời gian ngắn xoay quanh các nhân vật Esmeralda, Frollo, Quasimodo, Gringoire và Phoebus. Tác giả kể một câu chuyện xảy ra trong thời gian ngắn nhưng dung lượng rất dài, bởi Victor Hugo đã miêu tả rất tỉ mỉ về những nhân vật cũng như những sự kiện trong câu 9 chuyện kèm theo lợi thế ở việc sử dụng trần thuật ở ngôi thứ ba tác giả đã kết hợp với những phần trữ tình ngoại đề, nêu nhận xét về nền kiến trúc của Paris vào thề kỉ XV, nhất là miêu tả chi tiết về kiến trúc của nhà thờ Đức Bà Paris, làm tăng sự đa dạng trong chủ đề của tác phẩm. Câu chuyện được người kể từ từ mở ra như những thước phim quay chậm trước mắt bạn đọc, để giúp cho người đọc hiểu rõ hơn về từng nhân vật góp mặt trong câu chuyện, người trần thuật với việc đứng ở ngoài câu chuyện đã chủ động dừng lại, kể về xuất thân cũng như lướt qua về quá khứ của nhân vật, khiến nhân vật được thể hiện một cách rõ ràng từ ngoại hình cho đến những diễn biến nội tâm của họ.
Khi kể về ngày hội Cuồng Đãng, sau khi giới thiệu về gian đại sảnh, hình ảnh đám đông trong ngày hội Cuồng Đãng, tác giả tập trung giới thiệu về nhân vật Gringoi và chỉ tập trung tới những sự kiện xoay quanh vở kịch của chàng trong ngày hội. Khi nhân vật phó Chủ giáo xuất hiện, tác giả lại dừng câu chuyện của mình để kể về con người Frollo song song với cuộc đời của Quasimodo và người em trai Jeahan của phó Chủ giáo. Đối với các nhân vật trong tác phẩm cũng vậy, có lẽ vì ảnh hưởng của yếu tố thời gian trong tác phẩm chỉ thu hẹp là thời gian ngắn, vậy nên người kể chuyện đứng ở ngôi thứ ba đã góp phần hợp lí khi quay về với việc giới thiệu cho bạn đọc chi tiết từng nhân vật. Khi thời gian trong tác phẩm Tiếng chim hót trong bụi mận gai kéo dài suốt cả ba thế hệ trong gia đình, người trần thuật đứng từ ngoài có thể cho câu chuyện của mình phát triển tự nhiên, người kể không cần dừng lại mạch câu chuyện như Nhà thờ Đức Bà để nói về cuộc đời nhân vật.
Người trần thuật ở đây lần lượt trình bày những sự kiện diễn ra xoay quanh gia đình Cleary từ lúc còn ở New Zealand cho đến khi chuyển tới cuộc sống ở Úc và những câu chuyện của thành viên thuộc gia đình Cleary dù họ ở đâu. Bởi câu chuyện được diễn ra một cách tuần tự theo thời gian giúp cho người đọc dễ dàng hình thành từng nhân vật và cuộc đời họ, người trần thuật chỉ việc trình bày câu chuyện của mình. Với sự bao quát, từng nhân vật và cuộc đời của họ, Meggie, Rallpher, Paddy, Fiona,… đến những thế hệ sau như Justine và Dane đều được tác giả trần thuật ở ngôi thứ ba khiến cho người đọc cảm nhận được sự khách quan của câu chuyện. Người trần thuật thể hiện một cách giản dị và những nhận xét về nhân vật của mình cũng không mang tính chất chủ quan như ở Nhà thờ Đức Bà, Victor Hugo khi xây dựng nên hình ảnh nhân vật thường có những nhận xét về nhân vật bằng lời nhận xét của chính tác giả, còn ở đây người trần thuật khéo léo để cho các nhân vật tự nhận 10 xét và đánh giá lẫn nhau.
Như cách nhà văn muốn xây dựng nên hình ảnh nhân vật của mình. Việc lựa chọn trần thuật ở ngôi thứ ba chiếm một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình sáng tác một tác phẩm. Với đặc thù thể loại Tiểu thuyết mang đậm chất lịch sử, người trần thuật ở ngôi thứ ba đã đáp ứng được những đòi hỏi khách quan, bao quát trong câu chuyện ở hai tác phẩm Nhà thờ Đức Bà Paris và Tiếng chim hót trong bụi mận gai. Nhưng với cốt truyện và yếu tố thời gian khiến cho ngôi trần thuật có những cách sử dụng khác nhau, phù hợp với dụng ý nghệ thuật của từng tác giả.
Điểm nhìn trần thuật trong Nhà thờ Đức Bà Paris và Tiếng chim hót trong bụi mận gai Điểm nhìn là một trong những yếu tố hàng đầu của sáng tạo nghệ thuật. Theo Pospelov: “Trong tác phẩm tự sự điều quan trọng là tương quan giữa nhà văn với chủ đề trần thuật hay nói cách khác là điểm nhìn trần thuật đối với những gì anh ta miêu tả” [25;298]. Khi Henry James trong “Nghệ thuật văn xuôi” (1884) xác lập điểm nhìn chính là “mô tả cách thức tồn tại của tác phẩm như một hành vi mang tính bản thể hoặc một cấu trúc hoàn chỉnh, tự trị đối với cá nhân nhà văn” và “Điểm nhìn là sự lựa chọn cự li trần thuật nào đó loại trừ được sự can thiệp của tác giả vào các sự kiện được miêu tả và cho phép văn xuôi trở nên tự nhiên hơn, phù hợp với cuộc sống hơn” [29;146]. Đánh dấu một bước phát triển đáng kể trong nghiên cứu nghệ thuật kể chuyện, kể từ đó điểm nhìn nghệ thuật được coi là một nhân tố bộc lộ kỹ thuật tiểu thuyết của nhà văn, một mắt xích khách quan, nội tại, duy nhất mà theo đó chúng ta có thể đánh giá được “tay nghề” của tác giả.
Thực chất của vấn đề điểm nhìn là chú trọng vai trò của chủ thể quan sát. Mối tác phẩm nghệ thuật là một cách nhìn về cuộc sống. Cách nhìn ấy được khu biệt trước hết bởi chủ thể nhìn. Không có khách thể độc lập tuyệt đối, mọi khách thể đều tồn tại trong mối quan hệ mật thiết với chủ thể.