phần Mở đầu, Kết luận, gồm 4 chương, 10 tiết với nội dung chính như sau: CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chương này, luận án liệt kê và phân tích các tài liệu tiêu biểu liên quan đến luận án trong 2 phần: 1) Tài liệu nghiên cứu về thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam; (2) Tài liệu nghiên cứu về thể chế chính trị CH Pháp để chứng minh hiện nay không có tài liệu trong nước và nước ngoài so sánh trực tiếp hai thể chế, đánh giá về những thành công và hạn chế của các tài liệu trong phần Tổng quan. Do vậy, nghiên cứu so sánh, kết luận và những đóng góp của luận án là hoàn toàn mới, giải quyết những hạn chế đã nêu và không trùng lặp với bất kỳ các công trình đã công bố nào khác. CHƢƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ SO SÁNH THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Luận án phân tích những vấn đề cơ bản về chính trị, thể chế chính trị, quan điểm tiếp cận chức năng-cấu trúc trong nghiên cứu thể chế chính trị so sánh. Nội hàm của thể chế chính trị bao gồm thể chế nhà nước và đảng chính trị.
Thể chế của Việt Nam là cộng hòa xã hội chủ nghĩa có đặc điểm quyền lực nhà nước tập trung, thống nhất, không phân chia. Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội. Thể chế của CH Pháp là cộng hòa bán tổng thống với đặc điểm: tổng thống được bầu phổ thông trực tiếp và có thực quyền; thủ tướng và chính phủ chịu trách nhiệm trước cả nghị viện và tổng thống. Về phương pháp nghiên cứu so sánh, quan điểm cấu trúc chức năng được luận án đánh giá là có ưu điểm để phân tích 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những điểm tương đồng và khác biệt trong việc hoạch định chính sách và thực thi quyền lực nhà nước.
CHƢƠNG 3: CẤU TRÚC TỔ CHỨC CỦA THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ CHXHCN VIỆT NAM VÀ CH PHÁP Trong chương này, luận án phân tích lịch sử tư tưởng nhà nước pháp quyền và việc vận dụng tư tưởng nhà nước pháp quyền trong cấu trúc tổ chức thể chế chính trị của Việt Nam và Pháp. Những đặc điểm tĩnh về cấu trúc tổ chức giữa thể chế nhà nước Việt Nam (hình tam giác cân) và CH Pháp (hình tam giác đều) được phân tích qua việc so sánh thể chế lập pháp, hành pháp và tư pháp của hai quốc gia. Tiếp theo, luận án so sánh cấu trúc hệ thống đa đảng chính trị của CH Pháp với cấu trúc hệ thống một Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập từ năm 1930 đến nay là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có mối quan hệ gắn kết về tổ chức giữa Đảng với thể chế nhà nước Việt Nam. Ngược lại, đảng chính trị của CH Pháp lại không có đặc điểm này, đa số các đảng chính trị của Pháp đều mới thành lập, chia tách hoặc sáp nhập.
Mối quan hệ tổ chức giữa đảng với thể chế nhà nước CH Pháp không chặt chẽ do xu hướng cá nhân hóa quyền lực của tổng thống đối với đảng chính trị. CHƢƠNG 4: CHỨC NĂNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ CHXHCN VIỆT NAM VÀ CH PHÁP Chương cuối cùng của luận án so sánh chức năng hoạt động thể chế chính trị của CHXHCN Việt Nam và CH Pháp đã làm rõ thêm những đặc điểm động về sự tương đồng và khác biệt của thể chế nhà nước và đảng chính trị trong quá trình hoạch định chính sách công. Việt Nam và Pháp giống nhau khi có các thể chế nhà nước thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp nhưng nội dung và tính chất thực hiện cụ thể trong việc thực hiện các chức năng này là khác nhau. Những điểm khác nhau này cũng do sự khác 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhau trong cấu trúc tổ chức giữa các yếu tố trong thể chế chính trị của Việt Nam và Pháp.
Những đặc điểm tĩnh và động có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại, chi phối và phụ thuộc lẫn nhau. Tiếp theo, luận án so sánh về sự khác nhau giữa đảng chính trị của CH Pháp và Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng chính trị của CH Pháp không tham gia vào quá trình hoạch định chính sách vì là nước có cấu trúc hệ thống đa đảng, bầu cử trực tiếp tổng thống nên tổng thống không phụ thuộc vào một đảng hay liên minh đảng chính trị nào. Tổng thống quyết định chính sách trong chính phủ và hạn chế đảng chính trị tham gia vào quá trình này. Ngược lại, Đảng Cộng sản Việt Nam là thể chế lãnh đạo thông qua các chủ trương, đường lối, chính sách chủ đạo.
Đảng đề ra Cương lĩnh, Nghị quyết để Chính phủ và Quốc hội triển khai thực hiện. Tuy nhiên, mối quan hệ quá chặt chẽ về chức năng hoạt động của Đảng Cộng sản với thể chế nhà nước cũng làm hạn chế đi ít nhiều tính chủ động trong quá trình hoạch định chính sách của thể chế nhà nước. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Hiện nay có nhiều tài liệu khoa học cả trong và ngoài nước nghiên cứu riêng về thể chế chính trị của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCN Việt Nam) và Cộng hòa Pháp (CH Pháp) đương đại. Tuy nhiên, tài liệu nước ngoài nghiên cứu so sánh giữa hai thể chế CHXHCN Việt Nam và CH Pháp hầu như không có.
Một số tài liệu ở trong nước nghiên cứu thể chế chính trị nước ngoài chỉ có phần nội dung tương ứng tham chiếu, đối chiếu hoặc vận dụng, liên hệ đến thể chế chính trị của Việt Nam mà cũng không có tài liệu so sánh trực tiếp giữa hai thể chế chính trị Việt Nam và Pháp. Do vậy, luận án trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu hai thể chế trong 2 phần: 1) Tài liệu nghiên cứu về thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam và (2) Tài liệu nghiên cứu về thể chế chính trị CH Pháp. Tình hình nghiên cứu về thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam 1. Tài liệu trong nước Nghiên cứu về thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam hiện có khá nhiều tài liệu.
Trong tổng quan của 2 luận án nghiên cứu sinh gần đây, một là Luận án Tiến sĩ luật học của Tống Đức Thảo [60] và thứ hai là Luận án Tiến sĩ chính trị học của Lý Vĩnh Long [35], hai tác giả đã thống kê và tóm tắt khá đầy đủ nội dung nhiều công trình và đề tài ở trong nước nghiên cứu về thể chế Nhà nước và Đảng Cộng sản Việt Nam. Có thể kể tên như: Đề tài KX.10-03: Đổi mới quan hệ giữa Đảng và bộ máy nhà nước và các tổ chức chính trị-xã hội trong hệ thống chính trị ở Việt Nam do GS. Lê Hữu Nghĩa làm chủ nhiệm; Đề tài KX.10-09: Thực trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn đổi mới đất nước từ 1986 đến nay do GS. Nguyễn Duy Quý làm chủ nhiệm; Đề tài KX.10-07: Xây dựng cơ chế pháp lý 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đảm bảo sự kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước và các thiết chế tổ chức trong hệ thống chính trị do GS.TSKH Đào Trí Úc chủ nhiệm.
Không liệt kê lặp lại ở phần tổng quan của các tác giả đã nêu trên, luận án lựa chọn phân tích khái quát, tập trung đánh giá những thành công và hạn chế trong 3 tài liệu nghiên cứu về thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam sau đây. Tài liệu thứ nhất: Thể chế chính trị Việt Nam - Lịch sử hình thành và phát triển là một công trình nghiên cứu về Thể chế chính trị Việt Nam theo khía cạnh lịch sử của tác giả Lưu Văn An, Nhà Xuất bản Chính trị - Hành chính xuất bản năm 2012. Tài liệu gồm 325 trang, 7 chương, trong đó tác giả đã trình bày từ quá trình hình thành thể chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong những năm đầu thế kỷ 20, đến thể chế chính trị Việt Nam giai đoạn 1945-1954, thể chế Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn 1954-1975, giai đoạn 1975-1992 và thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam từ năm 1992 đến nay. Tác giả cũng phân tích thể chế Cách mạng Miền Nam Việt Nam, cả thể chế của Việt Nam Cộng hòa ở Miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975 tại chương 3 và chương 4.
Trong mỗi thể chế và giai đoạn, tác giả đã phân tích và làm rõ vai trò của Đảng (chương 4 là đảng chính trị), của Nhà nước, của các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng, kiện toàn, đổi mới thể chế. Kết thúc mỗi chương, tác giả có phần riêng để đánh giá, kết luận về đặc điểm của thể chế trong mỗi giai đoạn. Khái quát chung về thể chế chính trị Việt Nam, tác giả cho rằng việc thành lập thể chế chính trị Dân chủ Cộng hòa năm 1945 “đã đánh dấu bước ngoặt kỳ diệu trong lịch sử Việt Nam” [1, tr. Thể chế chính trị CHXHCN Việt Nam hiện đại ngày càng được hoàn thiện, phát triển, giải quyết tốt những nhiệm vụ do lịch sử đặt ra.
Tác giả khẳng định việc tiếp tục 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đổi mới, kiện toàn thể chế chính trị cho phù hợp với giai đoạn hiện nay, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. “Yêu cầu của đổi mới thể chế chính trị trước hết là xác định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức hệ thống chính trị và mối quan hệ giữa các tổ chức đó. Đảng là hạt nhân lãnh đạo toàn bộ thể chế; Nhà nước có chức năng thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, quản lý toàn diện xã hội. Đặc biệt, tác giả đã nêu khái niệm thể chế chính trị và khẳng định đây là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi ở các nước nhưng ít được sử dụng ở Việt Nam: “Thể chế chính trị bao gồm thể chế nhà nước, thể chế đảng chính trị, thể chế các tổ chức chính trị - xã hội” [1, tr.
Tóm lại, mặc dù đây là một trong số ít công trình nghiên cứu chính trị Việt Nam có tiêu đề trực tiếp đề cập đến Thể chế chính trị nhưng chỉ chủ yếu phân tích theo góc độ lịch sử hình thành và phát triển của thể chế chính trị Việt Nam từ hiện đại đến đương đại (giai đoạn trước 1945 đến nay).