Chương I: Những vấn đề lý luận về điều chỉnh bằng pháp luật đối với lãi suất trong hợp đồng vay; Chương II: Điểm tương đồng và khác biệt giữa Pháp luật Việt Nam và Pháp luật một số nước trên thế giới về lãi suất trong hợp đồng vay; Chương III: Đánh giá về nguồn gốc sự khác biệt và kiến nghị hướng hoàn thiện đối với quy định về lãi suất trong hợp đồng vay tiền của pháp luật Việt Nam. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY Trong nghiên cứu khoa học, đứng trước một vấn đề cần luận giải, lý thuyết luôn luôn đóng vai trò nền tảng, dẫn đường để đi sâu phân tích đánh giá, đề tài này cũng không nằm ngoài quy luật đó. Trước khi đi vào nghiên cứu, phân tích các quy phạm pháp luật về lãi suất trong hợp đồng vay, chúng ta cần nắm chắc và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận liên quan đến nội dung này. Chỉ khi các khái niệm, đặc điểm được hiểu một cách thấu đáo, thông suốt thì chúng ta mới có thể đánh giá được quy định của luật thực định.
Xuất phát từ đối tượng nghiên cứu của đề tài, trong chương này Tác giả xin trình bày, phân tích các vấn đề nội hàm về mặt lý luận của Hợp đồng vay tiền, khái niệm Lãi suất và lãi suất trần, phân tích lý luận về hợp đồng vay tiền dân sự và tín dụng. Đồng thời, Tác giả cũng đưa ra các tiêu chí so sánh, lý giải lý do lựa chọn các tiêu chí này để so sánh quy định về lãi suất trong Hợp đồng vay tiền của Pháp luật Việt Nam và Pháp luật một số nước trên thế giới.1 Khái quát về hợp đồng vay tiền Trong đời sống xã hội nói chung, việc chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản là một nhu cầu tất yếu để đáp ứng nhu cầu của các cá nhân. Các nhu cầu này được thỏa mãn thông qua một chuỗi các giao dịch dân sự có tính chất trao đổi. Hợp đồng vay tiền là một giao dịch dân sự mang đầy đủ đặc điểm, tính chất chung của hợp đồng vay tài sản.
Đồng thời, do đối tượng của Hợp đồng vay tiền là một đối tượng đặc thù nên nó có những đặc trưng riêng biệt. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Khái niệm Hợp đồng vay tiền Theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin thì tiền tệ là hàng hoá đặc biệt, dùng làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hoá, là sự thể hiện chung của giá trị và thể hiện lao động xã hội; đồng thời tiền tệ biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá, do quá trình phát triển lâu dài của trao đổi hàng hoá tạo ra. Tiền với cách hiểu chung nhất là bất cứ cái gì được chấp nhận trong thanh toán để lấy hàng hoá hoặc trong việc hoàn trả các khoản nợ. Trong khái niệm về tài sản thì tiền là một trong số các loại tài sản được liệt kê.
Vậy ta cần hiểu hợp đồng vay tài sản là gì, từ đó suy luận ra khái niệm hợp đồng vay tiền. Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” (Điều 463). Hợp đồng vay tiền là một dạng hợp đồng vay tài sản, dựa theo khái niệm trên, ta có thể hiểu tương tự về khái niệm hợp đồng vay tiền: “Hợp đồng vay tiền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tiền cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tiền theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”. Như vậy, về cơ bản hợp đồng vay tiền gồm các yếu tố sau: Thứ nhất: Chủ thể của hợp đồng bao giờ cũng có hai bên tham gia, bao gồm bên vay và bên cho vay.
Bên cho vay là cá nhân, tổ chức có khoản tiền muốn cho cá nhân, tổ chức khác sử dụng để thỏa mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thần của mình. Còn bên vay là bên cần sử dụng tiền của người khác để thỏa mãn nhu cầu kinh doanh hoặc tiêu dùng của mình. Thứ hai: Hình thức pháp lý của hợp đồng vay tiền có thể bằng văn bản hoặc lời nói và được thực hiện trên những nguyên tắc cơ bản của hợp đồng như: nguyên tắc tự do ý chí, nguyên tắc tự định đoạt… Thứ ba: Sự kiện cho vay được phát sinh bởi hai hành vi ứng trước và hoàn trả một số tiền nhất định. Thời hạn thanh toán khoản vay và hiệu lực hợp đồng do các bên thỏa thuận.
Thứ tư: Bên vay chỉ phải trả lãi suất nếu các bên có thỏa thuận hoặc theo luật định. Về cơ bản, hợp đồng vay tiền mang những yếu tố chung của các hợp đồng dân sự khác: chủ thể, khách thể, sự kiện pháp lý. Tuy nhiên, xuất phát từ đối tượng của loại hợp đồng này là “tiền” – đối tượng hết sức đặc thù nên hợp đồng vay tiền cũng có đặc trưng riêng.2 Đặc điểm của hợp đồng vay tiền Dựa vào khái niệm, phân tích nêu trên, có thể rút ra được đặc điểm của hợp đồng vay tiền: Thứ nhất: Hợp đồng vay tiền là hợp đồng chuyển quyền sở hữu đối với số tiền vay, kể từ thời điểm chuyển giao tiền, bên vay có toàn quyền sử dụng, định đoạt đối với số tiền đó, trừ trường hợp hợp đồng có quy định về điều kiện sử dụng. Thứ hai: Hợp đồng vay tiền có lãi suất là hợp đồng song vụ, các bên tham gia vào hợp đồng vừa có quyền vừa có nghĩa vụ.
Bên cho vay có nghĩa vụ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chuyển giao tiền đúng thời hạn, bên vay có nghĩa vụ trả đủ tiền gốc và tiền lãi đúng hạn. Bên nào vi phạm nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm dân sự. Thứ ba: Hợp đồng vay tiền là hợp đồng có đền bù hoặc không có đền bù. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tập trung nghiên cứu lãi suất trong hợp đồng vay tiền nên hợp đồng vay tiền có lãi suất là hợp đồng vay tiềncó đền bù.
Các bên chủ thể sau khi thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng. Chúng ta biết rằng bản chất của các giao dịch dân sự mang tính đền bù tương đương và đặc điểm cơ bản của quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự là sự trao đổi ngang giá. Khi cho vay một khoản tiền nhất định thì trong một thời hạn có thể do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định phải có một khoản tiền phát sinh để đền bù cho sự đầu tư cho vay tiền của bên cho vay nhằm thoả mãn nhu cầu của bên cho vay [30]. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, bên cạnh việc cho vay của các tổ chức tín dụng thì quan hệ cho vay giữa cá tổ chức, cá nhân với nhau cũng diễn ra hết sức đa dạng, phong phú với nhiều hình thức và mức lãi suất thỏa thuận.
Tuy nhiên, không phải giao dịch vay tiền nào cũng đảm bảo được các yếu tố, điều khoản cần thiết của hợp đồng vay tiền, nên rất dễ phát sinh tranh chấp. Khi đó, hệ thống các quy định pháp luật phải dự liệu đầy đủ các tình huống để thẩm phán có thể giải quyết tất cả các vấn đề từ trả nợ gốc, nợ lãi, bao gồm cả lãi suất và thời gian tính lãi nợ quá hạn kể từ khi hết hạn vay, với hợp đồng vay tiền không có thời hạn thì thời gian tính lãi nợ quá hạn kể từ khi đòi nợ.3 Đối tƣợng của Hợp đồng vay tiền Theo quy định tại Khoản 1, Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 thì “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Đối tượng của Hợp đồng vay 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tiền là Tiền – một loại tài sản đặc biệt trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên, hiện nay trong Bộ luật dân sự chưa có một định nghĩa, quy định cụ thể về Tiền.
Điều này dẫn đến các cách hiểu không thống nhất về Tiền, gây ra khó khăn trong thực tiễn áp dụng. Dưới góc độ luật dân sự thì Tiền là loại tài sản có đặc điểm pháp lý khác biệt so với Vật, có thể kể đến sự khác biệt đó như sau: Đối với vật thì chúng ta có thể khai thác công dụng hữu ích từ chính vật đó (dùng nhà để ở, dùng xe máy để đi lại, dùng bút để viết, …). Còn đối với tiền thì không thể khai thác công dụng hữu ích từ chính tờ tiền hay đồng tiền xu đó. Tiền thực hiện ba chức năng chính là: công cụ thanh toán đa năng, công cụ tích lũy tài sản và công cụ định giá các loại tài sản khác.
Khái niệm “quyền sử dụng” chỉ được áp dụng một cách trọn vẹn cho vật chứ không áp dụng được cho tiền. Các vật thông thường có thể do rất nhiều chủ thể khác nhau tạo ra, còn tiền do Nhà nước độc quyền phát hành. Việc phát hành tiền được coi là một trong những biểu hiện của chủ quyền của mỗi quốc gia. Vật được xác định số lượng bằng những đơn vị đo lường thông dụng, còn tiền lại được xác định số lượng thông qua mệnh giá của nó.
Chủ sở hữu vật được toàn quyền tiêu hủy vật thuộc sở hữu của mình, còn chủ sở hữu tiền lại không được tiêu hủy tiền (không được xé, đốt, sửa chữa, thay đổi hình dạng, kích thước, làm giả,…). Dưới góc độ kinh tế thì việc sử dụng tiền được hiểu thông qua hành vi đầu tư tiền vào các hoạt động kinh doanh (mua bán thiết bị, cho vay lấy lãi, góp vốn, …) hay tiêu dùng. Nhưng dưới góc độ luật dân sự thì các hành vi đầu tư hay tiêu dùng đó lại phải được hiểu là hành vi thực hiện quyền định đoạt tiền (chuyển giao quyền sở hữu tiền cho chủ thể khác), chứ không phải là thực hiện quyền sử dụng. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dưới góc độ kinh tế, việc gửi tiền vào các tổ chức tín dụng (gửi tiền vào tài khoản của mình trong Ngân hàng) thường được coi là hành vi cất giữ tiền của mình.