Nghiên cứu so sánh Quốc hội Mỹ và Quốc hội Việt Nam: Những vấn đề tham chiếu quan trọng

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quốc hội mĩ và quốc hội việt nam những vấn đề tham chiếu luận văn ths luật 62 38 01 01, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ luật học

2013

231
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Các nghiên cứu chung về Quốc hội

1.2. Các nghiên cứu về Quốc hội Mĩ

1.3. Các nghiên cứu về Quốc hội Việt Nam

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU SO SÁNH QUỐC HỘI MĨ VÀ QUỐC HỘI VIỆT NAM

1.1. Quốc hội là định chế tất yếu trong một nhà nước dân chủ

1.2. Cơ sở hình thành Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam

1.3. Những vấn đề lí luận về so sánh Quốc hội

2. CHƯƠNG 2: VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÍ CỦA QUỐC HỘI

2.1. Vị trí của Quốc hội

2.2. Chức năng của Quốc hội

2.3. Quyền hạn và quan hệ của Quốc hội với các cơ quan nhà nước

2.4. Quan hệ của Quốc hội với đảng phái chính trị

2.5. Kiến nghị về địa vị pháp lí của Quốc hội Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA QUỐC HỘI

3.1. Cơ cấu chung của Quốc hội

3.2. Cơ cấu lãnh đạo tại Quốc hội

3.3. Cơ cấu ủy ban của Quốc hội

3.4. Đại biểu Quốc hội

3.5. Kiến nghị về cơ cấu tổ chức của Quốc hội Việt Nam

4. CHƯƠNG 4: VỀ QUI TRÌNH, THỦ TỤC HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC HỘI

4.1. Thủ tục kì họp của Quốc hội

4.2. Qui trình làm luật của Quốc hội

4.3. Thủ tục hoạt động giám sát của Quốc hội

4.4. Kiến nghị về qui trình, thủ tục hoạt động của Quốc hội Việt Nam

5. CHƯƠNG 5

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam Những điểm khác biệt

Quốc hội là cơ quan lập pháp quan trọng trong mỗi quốc gia, đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng và thực thi pháp luật. Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam đều có những đặc điểm riêng biệt, phản ánh lịch sử, văn hóa và chính trị của từng quốc gia. Việc so sánh hai Quốc hội này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của chúng mà còn cung cấp những bài học quý giá cho việc cải cách Quốc hội Việt Nam.

1.1. Đặc điểm cơ bản của Quốc hội Mĩ

Quốc hội Mĩ được thành lập theo Hiến pháp năm 1787, bao gồm hai viện: Thượng viện và Hạ viện. Mỗi viện có chức năng và quyền hạn riêng, tạo nên một hệ thống kiểm soát quyền lực hiệu quả. Quốc hội Mĩ có vai trò quan trọng trong việc lập pháp, giám sát hành pháp và đại diện cho nhân dân.

1.2. Đặc điểm cơ bản của Quốc hội Việt Nam

Quốc hội Việt Nam, theo Hiến pháp 2013, là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho nhân dân. Quốc hội có chức năng lập pháp, giám sát hoạt động của Chính phủ và quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia. Tuy nhiên, Quốc hội Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện để nâng cao tính minh bạch và hiệu quả.

II. Vấn đề và thách thức trong hoạt động của Quốc hội Mĩ và Việt Nam

Cả Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam đều đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình hoạt động. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả lập pháp mà còn tác động đến sự tin tưởng của người dân vào hệ thống chính trị.

2.1. Thách thức trong việc đại diện cho nhân dân

Quốc hội Mĩ thường gặp khó khăn trong việc đại diện cho tất cả các nhóm dân cư do sự phân hóa chính trị. Tương tự, Quốc hội Việt Nam cũng phải đối mặt với việc làm sao để phản ánh đầy đủ ý kiến và nguyện vọng của nhân dân trong bối cảnh xã hội đa dạng.

2.2. Vấn đề minh bạch và trách nhiệm giải trình

Minh bạch trong hoạt động của Quốc hội là một vấn đề quan trọng. Quốc hội Mĩ đã có nhiều cải cách để tăng cường tính minh bạch, trong khi Quốc hội Việt Nam vẫn cần cải thiện hơn nữa để đáp ứng yêu cầu của người dân về trách nhiệm giải trình.

III. Phương pháp cải cách Quốc hội Học hỏi từ Quốc hội Mĩ

Việc cải cách Quốc hội Việt Nam có thể học hỏi từ những kinh nghiệm của Quốc hội Mĩ. Những phương pháp và quy trình làm việc hiệu quả của Quốc hội Mĩ có thể được áp dụng để nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội Việt Nam.

3.1. Cải cách quy trình lập pháp

Quốc hội Mĩ có quy trình lập pháp rõ ràng và minh bạch, từ việc đề xuất dự luật đến khi thông qua. Quốc hội Việt Nam có thể tham khảo quy trình này để cải thiện tính hiệu quả và minh bạch trong hoạt động lập pháp.

3.2. Tăng cường vai trò giám sát

Quốc hội Mĩ có vai trò giám sát mạnh mẽ đối với hành pháp. Quốc hội Việt Nam cần tăng cường vai trò này để đảm bảo rằng các quyết định của Chính phủ luôn phù hợp với lợi ích của nhân dân.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu so sánh Quốc hội

Nghiên cứu so sánh giữa Quốc hội Mĩ và Quốc hội Việt Nam không chỉ mang lại những hiểu biết lý thuyết mà còn có thể áp dụng vào thực tiễn. Những bài học từ Quốc hội Mĩ có thể giúp Quốc hội Việt Nam cải cách và phát triển hơn nữa.

4.1. Áp dụng mô hình đại diện

Mô hình đại diện của Quốc hội Mĩ có thể được áp dụng để cải thiện tính đại diện của Quốc hội Việt Nam, từ đó nâng cao sự tham gia của người dân trong quá trình lập pháp.

4.2. Cải cách cơ cấu tổ chức

Cải cách cơ cấu tổ chức của Quốc hội Việt Nam theo hướng linh hoạt và hiệu quả hơn, học hỏi từ cách tổ chức của Quốc hội Mĩ, có thể giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan này.

V. Kết luận Tương lai của Quốc hội Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa

Quốc hội Việt Nam đang trong quá trình cải cách để đáp ứng yêu cầu của một nhà nước pháp quyền. Việc học hỏi từ Quốc hội Mĩ sẽ giúp Quốc hội Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai, đồng thời nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.

5.1. Tầm quan trọng của cải cách

Cải cách Quốc hội là cần thiết để đáp ứng yêu cầu của người dân và bối cảnh toàn cầu hóa. Quốc hội Việt Nam cần phải trở thành một cơ quan thực quyền, đại diện cho lợi ích của nhân dân.

5.2. Hướng tới một Quốc hội hiện đại

Hướng tới một Quốc hội hiện đại, Quốc hội Việt Nam cần tiếp tục cải cách, học hỏi từ những kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là từ Quốc hội Mĩ, để nâng cao hiệu quả hoạt động và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội.

19/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm 05 Chương. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu chung về Quốc hội Tại Việt Nam, Quốc hội và thiết chế đại diện đã bắt đầu được nghiên cứu từ những năm đầu thế kỉ 20 gắn với nhu cầu đấu tranh giành độc lập dân tộc và hướng đến xây dựng nhà nước cộng hòa dân chủ nhân dân đầu tiên năm 1945. Tuy nhiên, trên thế giới, đặc biệt ở châu Âu, thiết chế đại diện nói chung và Quốc hội nói riêng đã được nghiên cứu từ nhiều thế kỉ, trước cả khi có sự xuất hiện của Quốc hội Anh, vào khoảng 800 năm trước [26, tr.

Các nghiên cứu về Quốc hội và thiết chế đại diện trong lịch sử thế giới vô cùng đồ sộ, thường gắn liền với các nghiên cứu về nhà nước và NNPQ, diễn ra đặc biệt sôi động và mang tính hệ thống từ thế kỉ 17 đến thế kỉ 20, với các nhà tư tưởng vĩ đại của cách mạng tư sản và cách mạng XHCN. Với các thế giới quan triết học khác nhau, các học giả đều quan tâm lí giải nguồn gốc, bản chất và qui luật vận động của nhà nước, trong đó Quốc hội là bộ phận cấu thành. Hiện nay, khá nhiều tác phẩm của các triết gia và học giả nổi tiếng trên thế giới viết về NNPQ đã được dịch và giới thiệu tại Việt Nam. Trong đó, tác phẩm tiêu biểu, đề cập sâu sắc, toàn diện và trực tiếp đến Quốc hội và thiết chế đại diện phải kể đến cuốn sách Chính thể đại diện của John Stuart Mill, được Nhà xuất bản (Nxb) Tri thức dịch và xuất bản năm 2008.

Đây là một trong các tác phẩm kinh điển của nền dân chủ phương Tây, được xem như khảo cứu mang tính nền tảng đối với các thiết chế chính trị, xã hội ở Anh và Mĩ thế kỉ 19 [65, tr.8], cùng với các tác phẩm triết học khác mang tính nền tảng về dân chủ, nhân quyền và tổ chức quyền lực nhà nước như: Bàn về tự do cũng của tác giả John Stuart Mill (2005), Nền Dân trị Mĩ của A.Tocquevill (2006), Khảo luận thứ hai về chính quyền của John Locke (2007) đã được Nxb Tri thức xuất bản hay tác phẩm Bàn về khế ước xã hội của Jean - Jacques Rousseau, do Nxb Lí luận Chính trị xuất bản năm 2004. Một số tác phẩm của các học giả nổi tiếng được viết trong thời kì hiện đại đã được giới thiệu tại Việt Nam như: NNPQ của Josef Thesing, Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2002; Những đại chính thể ở châu Âu của Alex N. Dragnich, do Việt Nam Khảo dịch xã Sài gòn xuất bản năm 1964; Những vấn đề căn bản của Chính trị học của Lippson L, do Việt Nam Khảo dịch xã Sài gòn xuất bản 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năm 1972; Pinciples of The Rule of Law, do Bộ Ngoại giao Hoa Kì phát hành năm 2004. đã giới thiệu tư tưởng và hiện thực về NNPQ, chính thể trong NNPQ của các nước châu Âu.

Trong đó đề cao các nguyên tắc của NNPQ như dân chủ; tổ chức, hoạt động dựa trên cơ sở các quyền; chính phủ chịu ràng buộc và bị hạn chế bởi pháp luật; bảo đảm sự bất khả xâm phạm của cá nhân và nhóm người từ phía công quyền; đề cao tính tối cao của Hiến pháp; tổ chức nhà nước theo nguyên tắc phân quyền. Các học giả Liên xô (cũ) đã có nhiều công trình khoa học tiêu biểu về nhà nước, Quốc hội nói chung và Quốc hội của một số nước như: Luật Nhà nước các nước XHCN nước ngoài, Nxb Đại học Maxcova xuất bản năm 1976; Luật Nhà nước của các nước phát triển và đang phát triển, Nxb Pháp lí Maxcova xuất bản năm 1989; Những cơ quan của Nhà nước toàn Xô Viết, Nxb Khoa học Matxcova xuất bản năm 1979; Luật Nhà nước của các nước phát triển và các nước mới giải phóng, Nxb Quan hệ Quốc tế Maxcova xuất bản năm 1988; Nghị viện của các nước ngoài, Nxb Chính trị Maxcova xuất bản năm 1968; Nghị viện của các nước phát triển, Nxb Quan hệ Quốc tế Maxcova xuất bản năm 1990; Nghị viện Cộng hòa Áo, Nxb Maxcova xuất bản năm 1979; Các cơ quan đại diện nhân dân tối cao của các nước XHCN, Nxb Pháp lí Maxcova xuất bản năm 1972; Các Nghị viện, Nxb Liên minh Quốc hội và Nxb Tiến bộ Maxcova xuất bản năm 1967; Nghị viện Pháp, Nxb Khoa học Maxcova xuất bản năm 1988. Những tác phẩm nổi tiếng nói trên đã tập trung nghiên cứu về lí thuyết nhà nước, mô hình tổ chức quyền lực của nhà nước Xô viết và các nhà nước/Quốc hội của các nước XHCN; giới thiệu và phân tích mô hình tổ chức quyền lực một số nhà nước tư sản phát triển và các nhà nước mới giành độc lập. Những tác phẩm này về cơ bản dựa trên thế giới quan của Chủ nghĩa Mác-Lê Nin, có ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy chính trị, pháp lí của các học giả và các nhà lập pháp Việt Nam, nhất là giai đoạn từ năm 1980 đến nay.

Trên các diễn đàn luật học thế giới, hiện có rất nhiều công trình khoa học của các học giả tư sản nghiên cứu về Quốc hội và NNPQ, chẳng hạn (tiêu đề do tác giả tạm dịch): Cơ quan lập pháp (Legislatures) của Norton P. (chủ biên -1998); Chính phủ Anh, một tập văn tuyển về hoạch định chính sách (British Government, a reader in policy making) của Simon James (1997); Quá trình lập pháp - Một phương pháp tiếp cận so sánh (The Legislative Process - 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com A Comparative Approach) của David M. Olson (1980); Quốc hội và làm Luật: Nghiên cứu quá trình lập pháp (Congress and Law Making: Researching the Legislative Process), của Goehlert Robert U. Goehlert (1989); Thông tin và tổ chức lập pháp (Information and Legislative Organization) của Keith Krehbiel (1992); Logic hành động của Quốc hội (The Logic of Congressional Action) của Micheal Zander (2004); Thủ tục của Quốc hội và quá trình chính sách (Congressional Procedures and the Policy Process) của Walter J.

Oleszek (2010)…Các công trình nói trên đều dựa trên học thuyết về NNPQ của các học giả tư sản trong quá khứ và đặt trong bối cảnh xây dựng NNPQ hiện đại của các nhà nước Mĩ, Anh và Châu Âu. Các nghiên cứu này đều đề cập đến Hiến pháp và triết lí tổ chức quyền lực nhà nước; đặt Quốc hội trong thực tiễn quan hệ với đảng phái chính trị và với các thiết chế quyền lực khác theo học thuyết phân quyền, nhiều trong số nghiên cứu này đặt nhà nước/Quốc hội trong xu thế toàn cầu hóa. Bên cạnh đó, qui trình lập pháp, sự tương tác giữa các chủ thể nhà nước trong qui trình lập pháp, môi trường và các điều kiện cho hoạt động lập pháp và ban hành chính sách cũng được nhiều học giả phân tích sâu sắc, đồng thời với việc giới thiệu các mô hình, kinh nghiệm đa dạng về tổ chức và hoạt động của Quốc hội ở các nhà nước tư sản hiện đại. Trong thời kì Việt Nam Cộng hòa, các tác phẩm nổi tiếng về nhà nước phải kể đến Luật Hiến pháp và Chính trị học của Nguyễn Văn Bông, do Nxb Sài Gòn xuất bản năm 1967; hai tác phẩm: Luật Hiến pháp và các định chế chính trị và Luật Hiến pháp - Khuôn mẫu dân chủ của Lê Đình Chân, do Tủ sách Đại học Sài Gòn phát hành năm 1975.

Các tác phẩm này chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng chính trị, pháp lí của các học giả tư sản thời kì khai sáng và các nhà lập Hiến Mĩ. Trong đó, đề cao Chủ nghĩa Hiến pháp và giá trị nhân bản của bản Hiến pháp với tư cách là khuôn mẫu cho dân chủ, là bản văn cho sự phân chia và hạn chế quyền lực nhà nước và các nguyên tắc phổ quát về tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước. Tiếp nối các tư tưởng chính trị, pháp lí tiến bộ trong lịch sử, tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu chung về NNPQ và Quốc hội trong NNPQ cũng đã được nhiều học giả công bố và được quảng bá rộng rãi nhất là từ khi có chủ trương nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp 1980. Nxb Chính trị Quốc gia đã xuất bản các cuốn sách: Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi của Ngân hàng thế giới, năm 1998; Hệ thống chính trị ở các nước tư bản phát triển hiện nay của Hồ Văn Thông, 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năm 1998; Tổ chức và hoạt động của Nghị viện một số nước trên thế giới của Vũ Hồng Anh, năm 2001; Thể chế chính trị thế giới đương đại do Dương Xuân Ngọc chủ biên, năm 2001; Xem xét dự án luật - Cẩm nang dành cho các nhà lập pháp, năm 2001.

Năm 2000, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội đã phát hành Giáo trình Hiến pháp các nước tư bản, của hai tác giả Nguyễn Đăng Dung và Bùi Xuân Đức; năm 2001, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh đã phát hành cuốn sách Luật Hiến pháp đối chiếu của Nguyễn Đăng Dung.Trong không khí đổi mới, với sự tiếp cận thông tin đa chiều và khách quan hơn, những tác phẩm nói trên đã tiên phong giới thiệu tại Việt Nam về lịch sử tư tưởng và hiện thực của nhà nước và pháp luật tư sản, hệ thống chính trị và các mô hình chính thể trong các nhà nước tư sản hiện đại, tổ chức và hoạt động của một số loại hình nghị viện tiêu biểu trên thế giới, so sánh các mô hình chính thể và xu hướng vận động, phát triển của chúng trong thế giới đương đại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ