mở đầu cho khai hóa ý thức dân chúng”1. Hướng theo tư tưởng của nhà cầm quyền, những người có địa vị xã hội bắt đầu thay đổi cách để tóc, cách ăn mặc, cách trang điểm… Họ đã thay những bộ đồ kimono hay yugata kiểu truyền thống Nhật Bản bằng những bộ Âu phục, mang giày đen bóng, đội mũ kiểu phương Tây, cắt tóc ngắn, để râu giống người phương Tây. Thời trang, phong cách ăn mặc cũng chung một tay góp phần đáng kể vào việc thay đổi bộ mặt đường phố Nhật Bản trên bước đường tiến lên văn minh, hiện đại. Cuối thời Edo, đàn ông Nhật Bản hay xăm mình bằng mực đỏ và mực xanh, khi lao động nặng nhọc thường chỉ đóng khố và phụ nữ cũng thường chú ý quấn Kimono che từ hông xuống nhưng để hở ngực khi lao động hay nuôi con.
Trong rất nhiều tài liệu nước ngoài viết về trang phục Nhật Bản thời kì này hay xuất hiện chữ “lõa” phản ánh hiện tượng trên. Sau đó những phong tục này đã bị chính phủ Minh Trị nghiêm cấm từ năm 1871 với lý do điều đó sẽ làm nhục quốc thể, là “điều xấu hổ” trước cái nhìn của người nước ngoài – những người được coi là đại diện cho văn minh. Ở những thành phố lớn, việc cấm đoán này rất nghiêm ngặt nhưng ở nông thôn thực hiện vẫn còn khá lỏng lẻo. 1 Phan Hải Linh (2010), “Quá trình “cận đại hóa từ đầu tóc” của người Nhật qua tư liệu nước ngoài”, Bài giảng chuyên đề nghiên cứu Nhật Bản: Lịch sử văn hóa – xã hội, Nxb.
Thế giới, Hà Nội, tr. 20 Hình 5: Đàn ông Nhật Bản đóng khố và xăm mình đầu thời Minh Trị Trước thời Meiji, ở Nhật Bản cả nam giới và nữ giới đều mặc đồ Kimono – loại áo dài quấn quanh người và được thắt ở bụng bằng dây vải bản rộng. Vải để may Kimono thường được dệt bằng bông hay lụa, hoa văn Kimono nam giới thường khá đơn giản với những sọc kẻ hay nền trắng có hoa trong khi Kimono của phái nữ thường đa dạng về màu sắc, sinh động hoa văn, đặc biệt là ở dây đai thắt lưng vì nó thể hiện sự khéo léo của chủ nhân. Ngày thường, thường dân nam thường không mặc quần mà đóng khố, vào các dịp lễ mới mặc một loại hơi rộng, xếp nếp gọi là hakama.
Khi Âu phục (quân phục kiểu Hà Lan của hải quân và quân phục kiểu Pháp cho lục quân) bắt đầu xuất hiện ở Nhật Bản cuối thời Edo (khoảng những năm 1860), đã xuất hiện sự giao thoa văn hóa trong cách ăn mặc như tình trạng mặc Hakama thay cho quần tây hay mặc áo Kimono thay cho áo khoát quân đội… Bởi lẽ do kích cỡ trang phục không vừa, người dân Nhật Bản lại chưa quen với loại quần áo mới may sát có nhiều đường may, thêm vào đó là do số lượng trang phục còn ít. Bước sang thời Minh Trị, Âu phục được coi là biểu tượng cho văn minh khai hóa, lúc đầu chỉ giới hạn trong tầng lớp thượng lưu, binh lính, cảnh sát, những người có địa vị xã hội… và dần dần trở thành trang phục phổ biến của viên chức nhà nước, sinh viên, học sinh… Các phụ nữ ở thành phố đã bắt đầu xuất hiện những người mặc sơ mi như nam giới, loại váy dài bằng vải xa-tanh của phương Tây cũng trở thành mốt lưu hành trong giới thượng lưu và đến đầu thế kỉ XX, các loại váy phương Tây đã phổ biến rộng rãi trong phụ nữ thành thị Nhật Bản. Cuối thời Minh Trị, từ haikara (trong tiếng Anh từ High collar nghĩa là áo cổ cao) đã xuất hiện trong từ ngữ tiếng Nhật hàng ngày với nghĩa là “hợp thời trang”. 21 Kimono nam giới Nhật Bản Âu phục nam giới đầu thời Minh Trị Kimono của phụ nữ Nhật Bản Hình 6: Một số kiểu trang phục Nhật Bản Những biến đổi về trang phục đã kéo theo những thay đổi khác đi kèm với nó.
Trước cách mạng Minh Trị, cả nam giới và phụ nữ Nhật Bản đều đội nón vành rộng, lòng nông và dùng ô giấy để che mưa nắng. Bộ phận vũ sĩ hay đội nón bị thủng ở đỉnh để hở búi tóc và phụ nữ dùng khăn hay vải quấn quanh vùng đầu, mặt để giữ ấm vào mùa đông. Sau cách mạng Minh Trị, cùng với sự xuất hiện của những bộ Âu phục phương Tây, người ta cũng bắt đầu nhận ra những loại nón trên đã lạc hậu, không thể đi kèm các bộ trang phục tân thời, vì thế người dân Nhật Bản cũng không ngần ngại tiếp thu những kiểu nón mới kiểu phương Tây cho hợp mốt. Nam giới bắt đầu đội mũ cát két hay mũ phớt, phụ nữ đội mũ rộng vành hay che ô vải.
Giày dép cũng được thay đổi cho phù hợp, những đôi giày đen bóng xuất hiện trên đường phố Nhật Bản ngày càng nhiều thay cho những đôi guốc gỗ hay những đôi dép bện bằng rơm, mây trước cải cách. Vài hình ảnh về chiếc nón Nhật Bản 7. Các loại mũ phổ biến đầu thời Minh Trị 7. Chiếc ô giấy Nhật Bản 7.
Phụ nữ Nhật Bản choàng khăn 7. Guốc, dép Nhật Bản a. Guốc thấp Cách ăn mặc cũng được cụ thể hóa bằng các văn bản luật chính thức được ban hành bởi chính phủ. Năm 1872, chính phủ Minh Trị ban hành qui định quan chức phải mặc Âu phục trong các nghi lễ chính thức.
Phụ nữ Nhật mặc váy và uốn tóc giống phụ nữ phương Tây ngày càng nhiều, ra đường mang dù rất lịch thiệp, trang nhã. 23 Nếu như trước cải cách Minh Trị người Nhật ít ăn thịt do tình hình chăn nuôi thấp kém và quan niệm cho rằng ăn thịt là nhơ bẩn, không tốt cho sức khỏe thì sang thời Minh Trị quan niệm đó hoàn toàn ngược lại. Nhờ sự tích cực vận động tuyên truyền về dinh dưỡng của các bác sĩ Tây học nên việc sử dụng các loại thịt chế biến thức ăn trở nên phổ biến, đặc biệt là thịt bò. Thịt bò được sử dụng rộng rãi trong bữa ăn hàng ngày và ăn thịt bò trở thành một biểu tượng của văn minh khai hóa.
Thậm chí người ăn thịt bò càng nhiều càng được cho là văn minh và ngược lại, đương thời người ta còn truyền miệng nhau câu “không ăn lẩu bò thì không văn minh” và món Sukiyaki – ngày nay được coi là món ăn truyền thống của Nhật Bản – là một trong những món ăn chế biến từ thịt bò được phổ biến từ khoảng năm 1872. Các món ăn chế biến từ thịt bò, các sản phẩm từ sữa bò như bơ, pho mát. và bia, rượu, bánh mì, bánh ngọt – những món ăn phương Tây cũng được sử dụng phổ biến, các quán ăn châu Âu, cà phê, chè mọc lên ở nhiều nơi. Trước Minh Trị Duy Tân, nhà ở được coi là nơi sống, sinh hoạt của người đàn ông chủ gia đình và tiếp đãi khách khứa nhưng từ sau cách mạng Minh Trị, nhà được coi là nơi sinh hoạt chung cho tất cả các thành viên trong gia đình.
Chính sự thay đổi trong quan niệm này đã dẫn đến những thay đổi cơ bản trong cách xếp đặt, bố trí phòng ốc và không gian sinh hoạt của ngôi nhà. Sự thay đổi có thể nhận thấy dễ dàng nhất là phòng trà (茶の間 – Chyanoma) được đặt ở trung tâm ngôi nhà, hay quay về phía Nam để đón nhiều ánh sáng và gió trời thoáng mát, đây cũng là nơi sum họp chuyện trò của cả gia đình vào các bữa ăn; tất cả những điều trên thay thế cho cách bố trí trước đây là phòng người chủ gia đình và phòng khách được đặt chính giữa ngôi nhà, phòng trà, nhà bếp và các phòng sinh hoạt khác được xây dựng xung quanh. Đồ đạc, nội thất trong nhà cũng có sự thay đổi đáng kể, những chiếc bàn ăn lớn, rộng cho cả gia đình có thể quây quần được xuất hiện ngày càng nhiều thay cho những chiếc bàn nhỏ, thấp, chỉ dùng cho cá nhân; thêm vào đó là bàn ghế, giường gỗ kiểu phương Tây được sử dụng phổ biến. Hình 8: Cách bố trí nhà ở cuối thời Edo 1.
Phòng khách 2. Cửa ra vào 3. Phòng chủ nhà Hình 9: Sơ đồ nhà ở đầu thời Minh Trị 1. Phòng khách 3.
Phòng trà 2. Cửa ra vào 4. Phòng chủ nhà Kiến trúc phương Tây đã góp một luồng gió mới vào nghệ thuật kiến trúc truyền thống Nhật Bản. Tuy nguyên liệu truyền thống để xây dựng nhà cửa Nhật Bản là gỗ, tre, giấy vẫn được duy trì và phát triển nhưng vào thời đó, những tòa nhà lớn, những công trình kiến trúc đồ sộ xây bằng gạch, treo đèn chùm, lắp cửa kính, lát gạch tráng men theo phong cách phương Tây không phải là quá xa lạ với người dân tại các đô thị Nhật Bản.
Chúng đã làm thay đổi bộ mặt đô thị khiến chúng mang dáng dấp các đô thị hiện đại, tiên tiến. Khi màn đêm buông xuống, những ngọn đèn Tây phương thắp bằng khí đốt rực sáng phố phường càng làm cho những đô thị Nhật Bản thêm lộng lẫy, hiện đại. Cao điểm của phong trào Âu hóa trong kiến trúc, xây dựng là việc năm 1883, chính phủ Minh Trị cho xây dựng Rokumeikan (鹿鳴館 Lộc Minh Quán) – một tòa nhà được cho là biểu tượng của phong trào văn minh khai hóa. Đó là một công trình kiến trúc hai tầng tráng lệ được xây dựng theo kiểu phương Tây, được dùng làm nơi tiếp đãi quan khách nước ngoài và hội họp giao lưu cho giới thượng lưu.
Nghệ thuật phương Tây cũng du nhập vào Nhật Bản không kém phần rầm rộ, lĩnh vực sân khấu, kịch nghệ có những biến đổi to lớn khi đề cập đến các vấn đề hiện đại. Năm 1906, ở Nhật Bản xuất hiện gánh hát của “Hội văn học – nghệ thuật”, đến năm 1909 ra đời “Nhà hát Tự do”, thường trình diễn các vở kịch của Shakespeare, Gorky,…Tất cả những điều đó đã một mặt đã làm phong phú thêm món ăn tinh thần trong đời sống hàng ngày của người dân Nhật Bản, mặt khác cũng ít nhiều tác động đến tâm lý, tâm tư, tình cảm và hướng người dân Nhật Bản vượt ra khỏi đời sống truyền thống và tiếp cận với cuộc sống “Tây hóa” đang lan tỏa trong – ngoài từng giờ từng phút thông qua những thông điệp các tác phẩm muốn truyền tải. 25 Năm 1873, với phương châm kiên quyết văn minh hóa theo phương Tây, chính quyền Minh Trị quyết định bỏ Âm lịch chuyển hẳn sang dùng Dương lịch trên nhiều lĩnh vực đời sống, sản xuất xã hội .