So sánh hoạt động của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa trong hệ thống chính trị Mỹ từ năm 2001 đến nay

Luận văn thạc sĩ phân tích ussh so sánh hoạt động của đảng dân chủ và đảng cộng hòa trong hệ thống chính trị mỹ từ năm 2001, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp

Chuyên ngành

Chính trị học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

112
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu đề tài

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Dự kiến đóng góp của đề tài

0.7. Kết cấu của đề tài

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẢNG PHÁI TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ MỸ

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.1.1. Hệ thống chính trị Mỹ

1.2. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẢNG DÂN CHỦ VÀ ĐẢNG CỘNG HÒA TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY

2.1. Hoạt động bầu cử

2.2. Hoạt động kinh tế - xã hội

2.3. Về hoạt động an ninh quân sự

2.4. Cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố của hai Đảng sau sự kiện 11/9/2001

2.4.1. Cuộc chiến chống khủng bố dưới chính quyền Tổng thống George W.

2.4.2. Cuộc chiến chống khủng bố dưới chính quyền Tổng thống Barack Obama (2009 – đến nay)

2.5. Chính sách của hai Đảng đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

2.6. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẢNG DÂN CHỦ VÀ ĐẢNG CỘNG HÒA

3.1. Nguyên tắc hoạt động của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa

3.1.1. Nguyên tắc dân chủ

3.1.2. Nguyên tắc theo đa số

3.1.3. Nguyên tắc phi tập trung

3.2. Học thuyết của George W. Bush và Barack Obama

3.2.1. Học thuyết Bush

3.2.2. Học thuyết Obama

3.3. Triển vọng bầu cử năm 2016 của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa

3.4. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hoạt động của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa 2001 nay

Trong bối cảnh chính trị Mỹ từ năm 2001 đến nay, hoạt động của Đảng Dân chủĐảng Cộng hòa đã có những biến chuyển đáng kể. Hai đảng này không chỉ là những lực lượng chính trị chủ chốt mà còn là những nhân tố quyết định trong việc định hình chính sách và hướng đi của nước Mỹ. Sự cạnh tranh giữa hai đảng này đã tạo ra những ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực như kinh tế, an ninh và đối ngoại.

1.1. Đặc điểm chính trị của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa

Đảng Dân chủ thường được biết đến với các chính sách tiến bộ, tập trung vào quyền lợi xã hội và công bằng. Ngược lại, Đảng Cộng hòa thường ủng hộ các chính sách bảo thủ, nhấn mạnh vào tự do cá nhân và giảm thiểu sự can thiệp của chính phủ. Sự khác biệt này đã dẫn đến những cuộc tranh luận sôi nổi trong các cuộc bầu cử.

1.2. Tình hình chính trị Mỹ từ năm 2001 đến nay

Từ sau sự kiện 11/9, chính trị Mỹ đã trải qua nhiều thay đổi lớn. Đảng Cộng hòa dưới sự lãnh đạo của Tổng thống George W. Bush đã phát động cuộc chiến chống khủng bố, trong khi Đảng Dân chủ dưới Tổng thống Barack Obama đã tập trung vào việc cải cách y tế và chính sách đối ngoại. Những thay đổi này đã tạo ra những tác động lớn đến chính sách nội bộ và quốc tế của Mỹ.

II. So sánh chính sách bầu cử của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa

Chính sách bầu cử của Đảng Dân chủĐảng Cộng hòa phản ánh rõ ràng những khác biệt trong tư tưởng và chiến lược của hai đảng. Việc hiểu rõ những chính sách này không chỉ giúp nhận diện được xu hướng chính trị mà còn giúp cử tri đưa ra quyết định đúng đắn trong các cuộc bầu cử.

2.1. Chiến lược bầu cử của Đảng Dân chủ

Đảng Dân chủ thường tập trung vào việc thu hút cử tri trẻ và các nhóm thiểu số. Họ sử dụng các chiến dịch truyền thông mạnh mẽ để truyền tải thông điệp về sự công bằng và bình đẳng. Các chính sách như cải cách y tế và giáo dục cũng được nhấn mạnh trong các chiến dịch bầu cử.

2.2. Chiến lược bầu cử của Đảng Cộng hòa

Ngược lại, Đảng Cộng hòa thường nhấn mạnh vào các giá trị truyền thống và tự do kinh tế. Họ tập trung vào việc giảm thuế và thúc đẩy các chính sách kinh tế nhằm thu hút cử tri trung niên và cử tri nông thôn. Các chiến dịch của họ thường sử dụng các thông điệp về an ninh và sự ổn định.

III. Thách thức trong hoạt động của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa

Cả hai đảng đều phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc duy trì sự ủng hộ của cử tri. Những thách thức này không chỉ đến từ nội bộ mà còn từ các yếu tố bên ngoài như khủng hoảng kinh tế và các vấn đề xã hội.

3.1. Thách thức từ khủng hoảng kinh tế

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả hai đảng. Đảng Dân chủ phải đối mặt với áp lực từ cử tri về việc cải thiện tình hình kinh tế, trong khi Đảng Cộng hòa phải chứng minh khả năng quản lý kinh tế hiệu quả hơn.

3.2. Thách thức từ các vấn đề xã hội

Các vấn đề như phân biệt chủng tộc, quyền lợi của phụ nữ và biến đổi khí hậu đã trở thành những chủ đề nóng trong chính trị Mỹ. Cả hai đảng đều cần có những chính sách rõ ràng để giải quyết những vấn đề này nhằm thu hút cử tri.

IV. Ứng dụng thực tiễn của chính sách Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa

Chính sách của Đảng Dân chủĐảng Cộng hòa không chỉ ảnh hưởng đến nước Mỹ mà còn có tác động lớn đến các quốc gia khác. Việc phân tích các chính sách này giúp hiểu rõ hơn về cách thức mà Mỹ tương tác với thế giới.

4.1. Tác động của chính sách đối ngoại

Chính sách đối ngoại của Đảng Dân chủ thường tập trung vào hợp tác quốc tế và đa phương, trong khi Đảng Cộng hòa thường ủng hộ các biện pháp đơn phương và cứng rắn hơn. Sự khác biệt này đã dẫn đến những thay đổi lớn trong quan hệ quốc tế của Mỹ.

4.2. Tác động đến các quốc gia khác

Chính sách của hai đảng có thể ảnh hưởng đến các quốc gia khác, đặc biệt là trong các vấn đề như thương mại và an ninh. Việc hiểu rõ các chính sách này giúp các quốc gia khác điều chỉnh chiến lược của mình trong quan hệ với Mỹ.

V. Kết luận và tương lai của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa

Tương lai của Đảng Dân chủĐảng Cộng hòa sẽ phụ thuộc vào khả năng của họ trong việc thích ứng với những thay đổi trong xã hội và chính trị. Việc duy trì sự ủng hộ của cử tri sẽ là yếu tố quyết định cho sự tồn tại và phát triển của cả hai đảng.

5.1. Dự đoán về tương lai chính trị

Dự đoán về tương lai chính trị của Mỹ cho thấy rằng cả hai đảng sẽ cần phải điều chỉnh chính sách của mình để phù hợp với nhu cầu và mong muốn của cử tri. Sự cạnh tranh giữa hai đảng sẽ tiếp tục diễn ra và có thể dẫn đến những thay đổi lớn trong chính trị Mỹ.

5.2. Vai trò của cử tri trong tương lai

Cử tri sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc định hình tương lai của Đảng Dân chủĐảng Cộng hòa. Sự tham gia tích cực của cử tri trong các cuộc bầu cử sẽ quyết định ai sẽ là người lãnh đạo nước Mỹ trong những năm tới.

19/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về đảng phái trong hệ thống chính trị Mỹ Chương 2: Hoạt động của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa từ năm 2001 đến nay Chương 3: Một số nhận xét về hoạt động của Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẢNG PHÁI TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ MỸ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Hệ thống chính trị Mỹ Năm 1768, cuộc đấu tranh giành độc lập của Mỹ dưới sự lãnh đạo của George Washington bắt đầu. Năm 1776, Đại hội Lục địa tại Philadenphia đã thông qua bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ, tuyên bố thành lập nhà nước Liên bang gồm 13 bang đầu tiên.

Vào giai đoạn này, cơ cấu liên bang còn rất lỏng lẻo, chỉ là một hợp bang, hay một liên minh hữu nghị giữa các bang được thành lập. Trung tâm của liên minh này là Quốc hội một viện, được gọi là Đại hội hợp bang. Mỗi bang có một phiếu, không phụ thuộc vào quy mô của bang. Các hoạt động quan trọng đều phải cần đến sự đồng thuận của ít nhất 9 bang và đối với các nội dung trong điều khoản liên bang phải do cả 13 bang đồng ý [15, 227].

Hợp bang không có cơ quan hành pháp và hệ thống tòa án, Quốc hội không có khả năng đánh thuế, mà chỉ được yêu cầu các bang hỗ trợ ngân quỹ. Mỗi bang vẫn giữ chủ quyền, tự do và độc lập. Quốc hội cũng không có quyền hạn trực tiếp nào đối với các công dân. Đứng trước những vấn đề đó, mùa hè năm 1787, một Hội nghị lập hiến được triệu tập với sự tham dự của các đại biểu của 13 bang để soạn thảo Hiến pháp mới cho nước Mỹ, đến tháng 6 – 1788, sau khi đã có tối thiểu 9 chữ ký, Hiến pháp mới chính thức có hiệu lực.

Đây cũng là thời điểm chính thức đánh dấu sự ra đời của hệ thống chính trị Mỹ. Hệ thống chính trị Mỹ hiện nay gồm hai bộ phận cấu thành chính là thể chế và thiết chế. Thể chế gồm các loại định chế như: Hiến pháp, pháp luật và cá quy định hành chính trong đó Hiến pháp là định chế quan trọng nhất. Hiến pháp có vị trí quan trọng số một trong các loại hình định chế vì nó là văn bản pháp lý chứa đựng những thỏa thuận chung nhất giữa các lực lượng chính trị, những thỏa thuận này được coi như những nguyên tắc để xây dựng lên toàn 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bộ hệ thống chính trị Liên bang Mỹ.

Thiết chế gồm hai bộ phận: thiết chế chính thức, đó là bộ máy công quyền và thiết chế phi chính thức, đó là các đảng phái chính trị, các nhóm lợi ích, các phong trào chính trị… Theo Hiến pháp, Nhà nước Liên bang Hoa kỳ gồm 3 bộ phận: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mỗi bộ phận có chức năng và quyền hạn độc lập với nhau. Hệ thống chính trị của Mỹ hiện nay có nhiều điểm khác biệt so với thời kỳ mới hình thành nước Mỹ, tuy nhiên, những nguyên tắc cơ bản, những bộ phận cấu thành chủ yếu được hình thành từ khi lập nước vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay.  Ngành lập pháp Trong hệ thống chính trị Mỹ, ngành lập pháp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng thể chế để quản lý xã hội và kiềm chế - đối trọng với các thiết chế khác trong hệ thống chính trị.

Theo quy định của Hiến pháp Mỹ, Quốc hội đóng vai trò là trung tâm của hệ thống chính trị, có những quyền lực rất lớn, như quyền làm ra luật cho toàn quốc, quyền sửa đổi điều luật, giám sát hoạt động của bộ máy hành pháp, tư pháp và các tổ chức chính trị khác. Quốc hội Mỹ là một thể chế lưỡng viện, gồm hai nhánh: Thượng viện và Hạ viện. + Thượng viện có quy chế làm việc tự do hơn so với Hạ viện. Quy mô của Quốc hội Mỹ phát triển theo quy mô phát triển của đất nước.

Với quy chế mỗi bang chỉ có hai thượng nghị sĩ, Quốc hội đầu tiên của Mỹ chỉ có 26 thành viên. Khi có một bang mới, Thượng viện sẽ tăng thêm 2 thành viên và vì vậy, Thượng viện Mỹ hiện nay có 100 thượng nghị sĩ được bầu từ 50 bang khác nhau. Ứng cử viên Thượng viện phải từ 30 tuổi trở lên, là công dân Mỹ ít nhất 9 năm và là người cư trú tại chính bang mà họ đại diện. Các khu hành chính trực thuộc không có đại diện tại Thượng viện.

Các Thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm và được bầu lại bởi cử tri các bang. Cứ hai năm một lần, Thượng viện tổ chức bầu cử lại 1/3 số thượng nghị sĩ. Về mặt pháp lý, Phó 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tổng thống đồng thời là Chủ tịch Thượng viện. Song trên thực tế, điều hành công việc hàng ngày của Thượng viện là thủ lĩnh phe đa số trong Thượng viện.

Phó Tổng thống chỉ bỏ phiếu khi cần thiết để tránh bế tắc, trong trường hợp Thượng viện rơi vào tình huống 50/50 về một vấn đề nào đó [57]. + Hạ viện: So với Thượng viện, Hạ viện có quy mô lớn hơn. Quốc hội đầu tiên của Mỹ có 67 hạ nghị sĩ. Do dân số tăng lên, quy mô Hạ viện cũng tăng theo.

Năm 1992, Quốc hội đã thông qua một đạo luật quy định số lượng thành viên cố định của Hạ viện là 435 hạ nghị sĩ [15, 246]. Khác với Thượng viện, ứng cử viên Hạ viện phải là công dân Mỹ từ 25 tuổi trở lên, đã có 7 năm mang Quốc tịch Mỹ và là công dân của bang mà họ đại diện trước ngày bầu cử. Hạ viện có nhiệm kỳ hai năm và các nghị sĩ được bầu lên từ các đơn vị bầu cử của bang. Số hạ nghị sĩ đại diện cho bang phụ thuộc vào dân số của bang.

Mỗi bang có quyền có tối thiểu một hạ nghị sĩ. Việc phân bổ số hạ nghị sĩ cho các bang được tiến hành 10 năm một lần dựa trên kết quả điều tra dân số. Đứng đầu Hạ viện là Chủ tịch Hạ viện. Chủ tịch Hạ viện có thể là người có thế lực lớn thứ hai trong nền chính trị Mỹ sau Tổng thống.

Với tư cách là người đứng đầu phe đa số, Chủ tịch Hạ viện có vai trò thúc đẩy, hoặc loại bỏ một số dự luật không có lợi cho đảng của mình. Cả hai viện đều có quyền quyết định chiến tranh, kiểm soát các lực lượng vũ trang, đánh thuế, vay tiền, phát hành tiền, điều tiết thương mại, và ban hành luật cần thiết cho hoạt động của chính quyền. Trong đó, Thượng viện có đặc quyền cố vấn, thông qua các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài và các chức vụ do Tổng thống bổ nhiệm. Ví dụ, Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được Chính phủ hai nước ký tháng 7 năm 2000 và đến tháng 11 năm 2001 mới được Thượng viện Hoa Kỳ thông qua và đến 10/12/2001 mới có hiệu lực thi hành.

Cả Thượng viện và Hạ viện đều có những Uỷ ban riêng của mình. Tuy nhiên, giữa Thượng viện và Hạ viện có một số uỷ ban phối hợp để xử lý một 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com số công việc chung. Cả Thượng viện và Hạ viện đều có quyền đưa ra văn bản pháp lý về bất cứ vấn đề gì, trừ các dự luật về thu ngân sách là phải bắt nguồn từ Hạ viện. Các bang lớn bề ngoài dường như có nhiều ảnh hưởng đối với công quỹ hơn so với bang nhỏ.

Thượng viện có thể không tán thành một dự luật về thu ngân sách của Hạ viện, hoặc bất kỳ một dự Luật nào liên quan đến vấn đề này. Trong trường hợp đó, một tiểu ban tham vấn sẽ được thành lập, gồm các thành viên của cả hai viện, để đi tới một thỏa hiệp có thể chấp nhận đối với cả hai bên, trước khi dự luật trở thành luật. Thượng viện có quyền xác nhận sự bổ nhiệm của Tổng thống đối với các quan chức cấp cao và các đại sứ của chính quyền liên bang, cũng như phê chuẩn tất cả các hiệp ước với 2/3 số phiếu thuận. Khi đó, hành động không ủng hộ của Thượng viện sẽ vô hiệu hóa hành động của ngành hành pháp.

Hạ viện có toàn quyền đưa ra lời buộc tội về hành vi bất chính có thể dẫn tới việc xét xử ở tòa án. Khi ấy, Thượng viện cũng có toàn quyền kiểm tra những trường hợp luận tội và xác minh xem các quan chức là có tội, hay vô tội. Các quan chức liên bang sẽ buộc phải rời khỏi cơ quan nhà nước khi bị phát hiện là phạm tội. + Quyền hạn của Quốc hội Quốc hội là nơi diễn ra các sự thỏa hiệp của các đảng chính trị, do chính trị quyết định, hay nói một cách khác, hoạt động của nó luôn phụ thuộc vào từng cơ quan, lực lượng chính trị, mà hai Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa đóng vai trò quyết định.

Hiến pháp Mỹ trao cho Quốc hội quyền hành rất lớn, đó là quyền lập pháp, quyền sửa đổi hiến pháp và pháp luật. Điều I, mục 8 của Hiến pháp Hoa Kỳ đã quy định quyền hạn rộng lớn của Quốc hội như sau [55]: + Đánh thuế và thu thuế; vay tiền cho công quỹ; thiết lập các luật lệ và các quy chế điều chỉnh quan hệ thương mại giữa các bang và với nước ngoài; thiết lập các quy định thống nhất cho việc nhập tịch của công dân nước ngoài; thiết lập hệ thống tòa án liên bang; tuyên bố chiến tranh, và một số quyền lực khác… 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài ra, hiến pháp cũng có những điều cấm cụ thể đối với những hoạt động nhất định của Quốc hội. Quốc hội không được phép [55]: + Thông qua các luật trong đó lên án ai đó về sự phạm tội, hay hành vi phạm pháp, mà không thông qua tòa án; Đánh thuế trực thu lên công dân, trừ trường hợp dựa trên cơ sở một cuộc điều tra dân số đã được tiến hành; Đánh thuế hàng xuất khẩu từ bất cứ bang nào và nhiều điều cấm khác…  Ngành hành pháp Vào thời tất cả các quốc gia lớn ở Châu Âu đều có chế độ quân chủ cha truyền con nối, thì ý tưởng về một vị Tổng thống với nhiệm kỳ có giới hạn tự nó đã mang tính cách mạng. Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua năm 1787 đã trao quyền hành pháp cho Tổng thống và đến tận ngày nay điều đó vẫn tiếp tục tồn tại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ