Đặt vấn đề Nhằm mục đích trả lời cho các câu hỏi lý do chọn đề tài là gì?, mục đích nghiên cứu dé làm gi?, thời gian nghiên cứu đề tài diễn ra trong bao lâu và diễn ra ở đâu? 1. Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Giới thiệu các khái niệm, đặc điểm của kinh tế hộ nông dân, các đặc điểm kinh tế và kỹ thuật của cây mía, các chỉ tiêu tính kết quả hiệu quả kinh tế đồng thời đưa ra các phương pháp nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Chương 3: Tổng quan Giới thiệu sơ lược về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội tại địa phương nghiên cứu, những nhận xét chung về tình hình kinh tế xã hội của địa phương. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Những thông tin về tình hình sản xuất mía đường trong nước và thế giới cũng như đặc điểm sản xuất mía tại An Khê.
Các kết quả nghiên cứu các hộ trồng mía, khoai mi và lúa vẻ tình hình sản xuất, đặc điểm sản xuất của các hộ, hiệu qua sản xuất của các hộ nông dan Tìm hiểu các yếu tố tác động đến hiệu quả sản xuất mía, phân tích độ nhạy theo NPV, lợi nhận, xem xét mức độ rủi ro của cây mia. Tiến hành so sánh hiệu quá các loại cây với nhau từ đó đề xuất giải pháp phát triển nghề trồng mía, tăng thu nhập và những hướng phát triển cho các loại cây trồng tại địa phương. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Từ những kết quả nghiên cứu đưa ra các mặt mạnh, mặt yếu, những rủi ro cũng như những tiềm năng phát triển của cây mía tại địa phương. Từ đó có một số kiến nghị đề đề tài có tính thực tiễn hơn.
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm kinh tế nông hộ Kinh tế nông hộ là nông dân làm kinh tế. Hộ nông dân đích thực là tế bào cơ sở của nền kinh tế nông nghiệp nông thôn và cũng là tế bào cơ sở của nền kinh tế quốc dân. Đặc điểm kinh tế nông hộ ở Việt Nam Từ sau nghị quyết số 10- NQ/TW ngày 5 tháng 4 năm 1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý nông nghiệp và hội nghị TW VI (khóa VI) tháng 3 năm 1989 chủ trương: “phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, các vùng, các ngành, từng bước đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn XHCN.”, “hộ nông dân có quyền sử dụng đất đai, có nguồn lao động gia đình, có vốn sản xuất, có kinh nghiệm sản xuất, có công cụ để thực hiện sản xuất.
Mặt khác có năng lực quản lý, tổ chức sản xuất để tạo ra sản phẩm cho gia đình và xã hội. Các hoạt động sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi của hộ nông dân nhằm tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của gia đình và xã hội. Tính chất tự cấp là một điển hình ở phần lớn hộ tiểu nông ở nước ta. Họ cũng nỗ lực thâm canh nhằm gia tăng sản lượng và tối ưu hóa lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh nhằm tích lũy vốn tái sản xuất mở rộng.
Quy mô sản xuất của hộ gia đình nhỏ. Ở các tỉnh phía Bắc, nhất là đồng bằng Bắc Bộ số hộ có diện tích nhỏ hơn 0,2 ha chiếm 37,48%, số hộ có quy mô từ 0,2 ha đến 0,5 ha chiếm 48 %va số hộ có quy mô trên 1 ha chiếm 14,52 %. Ở ĐBSCL, DNB, Tây Nguyên có quy mô khá lớn, số hộ có quy mô 1 ha đến 3 ha chiếm 32,14 %, số hộ có quy mô từ 3 ha đến 5 ha chiếm 35,58 %. Các hộ nông dân chủ yếu là sử dụng lao động gia đình, vào mùa vụ có thể thuê thêm công hay đổi công.
Mức trang bị kỹ thuật còn chưa hiện đại. Sản xuất nông nghiệp bị manh mún gây khó khăn trong việc sản xuất hàng hóa nông sản.Vai trò kinh tế nông hộ Nghị quyết 06 ngày 10 tháng 11 năm 1998 của Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn đã nêu rõ: “Kinh tế hộ gia đình ở nông thôn là loại hình sản xuắt có hiệu quả về kinh tế- xã hội, tồn tại và phát triển lâu đài có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn. Khuyến khích kinh tế hộ phát triển mạnh mé.” Kinh tế hộ gia đình, sau những bước thăng trầm của quá trình tập thể hóa, nay đến thời kỳ đi lên CNH, đã khẳng định được vị trí đích thực của mình và đang trở thành lực lượng xung kích trong sản xuất nông sản hàng hóa. Ở nước ta, hộ nông dân trực tiếp quán lý sử dụng 90 % đất nông nghiệp và hơn 90 % lao động ở nông thôn.
Xã hội nông thôn cung cấp lực lượng lao động đồi dao cho việc phát triển ngành nghề, CN, dich vụ thúc đây quá trình CNH, HDH đất nước. Kinh tế nông hộ giữ một vai trò quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế quốc dân về năm phương điện: - _ Hộ gia đình vừa là tế bào sản xuất của một cơ thể lớn là cộng đồng xã hội, vừa là động lực sản xuất với tư cách là một đơn vị sắn xuất tự chủ. - _ Tiếp thu kỹ thuật thích hợp và sáng tạo vì lợi ích của ban thân ho. - Pam bảo an toàn lương thực và làm giàu cho đất nước.
- Bao vệ môi trường, bảo vệ đất, là cơ sở của nông nghiệp bền vững. - _ Kinh tế nông hộ là đối tượng và là điều kiện của sự nghiệp CNH, HDH nông nghiệp và nông thôn. Sơ lược về cây mía Nguồn gốc Cây mía được xác định có nguồn gốc từ khu vực Nam A. Mia đã được gieo trồng ở An Độ khoảng 3000 năm trước công nguyên.
Những người Bồ Dao Nha vượt biển mang về trồng ở châu Âu, C. Columbo mang sang châu Mỹ trong chuyến vượt biển thứ hai. Từ đó mía được di cư dần sang nhiều nước trên toàn thế giới. Ở Việt Nam từ 4000 năm trước đây, người Việt Cổ đã biết trồng mía, nhiều giống mía địa phương được thuần hóa từ mía dại.
Thời Pháp thuộc, do yêu cầu sản xuất mía đường: nhiều giống mía được nhập nội vào Việt Nam như: POJ của Indonesia, CO của Ấn Độ. Đến nay, bộ giống mía ngày càng được bổ sung đa dạng nhiều loại như: My 5514 của Cuba, ROC (ROC 10, ROC 16.) của Dai Loan, CP của Mỹ, và một số giỗng do Việt Nam lai tao (VN 84, VN 8526. Các giống mía mới có năng suất, chất lượng cao ngày càng được chú trọng phổ biến. Đặc điểm kinh tế Cây mía là nguồn nguyên liệu quan trọng của ngành CN chế biến đường.
Sản phẩm chính của cây mía là đường và các sản phẩm phụ là nguồn nguyên liệu quý của nhiều ngành CN. Với trình độ CNH ngày càng cao, giá trị của cây mía càng được khẳng định.So sánh với một số cây CN khác cây mía có nhiều ưu điểm: - Về mặt sinh học: nhờ đặc điểm có chỉ số điện tích lá lớn và khả năng lợi dụng ánh sáng mặt trời cao, trong thời gian 10- 12 tháng, một ha mía có thể cho năng suất hàng trăm tấn mía cây và một khối lượng lớn lá xanh, gốc để lại trong đất. Mia có khả năng để gốc được nhiều năm tức một lần trồng thu hoạch được ba, bốn vụ và giảm được chi phí sản xuất. - Vé mặt CN: ngoài sản phẩm chính của cây mía là đường còn cung cấp nguồn nguyên liệu cho các ngành như: rượu cồn, gỗ ép, thức ăn gia súc, phân bón.
Cac Sản Phẩm của Cây Mia Cây mía Thức ăn gia súc |» Sản phẩm trên đồng ruộng (lá, ngọn xanh, gốc, rễ) L„. | Phânbón Ỷ Sản phẩm chế biến CN Chính phẩm (đuờng) : Phụ phẩm: bã, mật ri, bùn lọc Chất đốt ⁄ Phân bón Thức ăn gia súc Rượu côn ; Các sản phẩm khác. Sản phẩm vi sinh ủ Sản phẩm sợi, bột giấy Thời vu gieo trồng Thời vụ gieo trồng của cây mía thường từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau. Mia trồng vụ này có thời gian sinh trưởng dài, thời kì vươn lóng gặp nhiều thuận lợi, mưa nhiều, ánh sáng day đủ.
Khi chin gặp điều kiện mưa ít, nhiệt độ thấp nên năng suất cao, phẩm chất tốt, mía trồng vụ này còn khắc phục được tình trạng trễ cờ. Đất có độ âm cao thuận lợi cho khâu làm đất để trồng và mật độ nảy mầm cao. Giai đoạn mía chín thời tiết mat mẻ, khô ráo bảo đảm cho mía tích lũy được hàm lượng dưỡng chất cao nhất. Đặc điểm kỹ thuật Làm đất: mía là cây trồng một lần có thể để gốc được nhiều năm, \2 ` bộ rễ phát triển mạnh, có khả năng ăn sâu vào đất.
Vì vậy, chuẩn bị đất trồng là khâu kỹ thuật đầu tiên và rất quan trọng, làm đất sâu đúng yêu cầu kỹ thuật không những tác động đến mía tơ sinh trưởng, phát triển tốt mà còn có lợi đến mía gốc ở các năm tiếp theo. Ở An Khê chủ yếu làm đất bằng máy, cày từ 2 đến 3 lần, sâu từ 25 — 30 cm, hướng của lần cày sau vuông góc với lần cày trước, sau đó xới lại một lần nữa. s%* `, Hom giống và cách đặt hom: hom có đường kính tối thiểu 2 cm, có 2 - 3 mắt, mam khỏe, không bị dập, không nhiễm sâu bệnh, không nên chọn hom quá già. Số lượng hom từ 30.
Đặt hom giữa rãnh, mầm nằm hai bên sau đó lắp hom bằng một lớp đất tơi nhuyễn day 10 — 15 em. * Làm cỏ: thường xuyên làm cỏ để cỏ dại không lan at mía vì cỏ dại cạnh (ranh dinh dưỡng với mía, ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng mía sau này. Thông thường làm cỏ 2 - 3 lần tùy theo có nhiều hay ít. Phân bón: là yếu tố tác động trực tiếp đến sản lượng thu hoạch và SZ BOG thu nhập của người trồng mía.
Các loại phân bón chính được bón cho mía: Urê, lân, Kali, NPK,. Phòng trừ sâu bệnh cho mía: mía có nhiều loại sâu bệnh như bệnh đốm vàng, bệnh sơ trắng hại lá, bọ hung, xén tóc, sâu đục thân. cần thường xuyên theo dõi ruộng mía dé phát hiện và diều trị kịp thời khi bệnh mới xuất hiện, nhỏ bỏ và tiêu hủy ngay những cây có bệnh. Đặc điểm sinh hoc.
Chu kỳ sinh trưởng của cây mía chia làm 5 giai đoạn: Giai đoạn nảy mầm: từ khi mía được trông xuống đất đến khi nảy *, s%* mam mia trở thành cây mẹ được coi là sự khởi đâu ảnh hưởng mật độ sau này.