Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỐI TƢỢNG CHỨNG MINH TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM, NỘI DUNG VÀ PHÂN LOẠI ĐỐI TƢỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm đối tƣợng chứng minh Theo triết học Mác - Lênin thì nhận thức là sự phản ánh biện chứng tích cực, sự phản ánh đó là một quá trình vận động và phát triển không ngừng từ không biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến bản chất, từ thấp đến cao, từ nông đến sâu để nắm được bản chất quy luật của sự vật, hiện tượng, bởi vì "hết thảy mọi vật chất đều có một đặc tính về bản chất gần giống nhau như cảm giác, đặc tính phản ảnh" [22, tr. 104] và "…ý thức bao giờ cũng là và chỉ là sự phản ánh tồn tại" [21].
Theo nguyên lý trên của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì mọi hoạt động của con người nói chung và hoạt động tội phạm nói riêng bao giờ cũng để lại dấu vết trong thế giới khách quan, thể hiện dưới dạng vật chất hoặc được phản ánh, lưu lại trong bộ não con người và con người hoàn toàn có thể nhận thức được về nó vì "thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian" [21, tr. Như vậy, theo lý luận triết học Mác - Lênin về nhận thức, con người hoàn toàn có thể nhận thức được thế giới xung quanh, tuy nhiên mức độ nhận thức phụ thuộc vào khả năng nhận thức của từng con người cụ thể, điều kiện của sự nhận thức, mục đích yêu cầu của sự nhận thức…Hoạt động nhận thức của con người diễn ra trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Đối với vụ án hình sự thì đó là hoạt động nhận thức chân lý mang tính gián tiếp, được thể hiện ở chỗ, khi có sự việc phạm tội có nghĩa là sự việc phạm tội đã xảy ra, các cơ quan tiến hành tố tụng thông qua những dấu vết mà người 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thực hiện hành vi phạm tội để lại, thể hiện dưới dạng vật chất hoặc được phản ánh trong trí nhớ của con người để khôi phục lại sự thật khách quan, tìm ra chân lý, làm sáng tỏ bản chất của vụ án, trên cơ sở đó giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, đúng quy định của pháp luật. Để đạt được mục đích của sự nhận thức trong quá trình giải quyết vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cần phải tuân thủ những quy luật chung của quá trình nhận thức hiện thực khách quan, đó là quá trình "từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng, và từ tư duy trìu tượng đến thực tiễn" [22, tr.
179] để nhận thức sự việc phạm tội, người thực hiện tội phạm và những tình tiết khác có liên quan đến vụ án một cách khách quan, có căn cứ và đúng quy định của pháp luật, làm cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội. Đó cũng chính là quá trình nhận thức và xác định về đối tượng chứng minh. Vậy, đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là gì? Trong một số giáo trình cũng như một số công trình nghiên cứu đã được công bố, có một số quan điểm về đối tượng chứng minh như sau: - Quan điểm thứ nhất: "Đối tượng chứng minh là tổng hợp những vấn đề cần phải được xác định làm rõ để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự" [35, tr. - Quan điểm thứ hai: "Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là tổng hợp tất cả các tình tiết thực tế phản ánh bản chất của sự việc liên quan đến tội phạm và người phạm tội, những tình tiết khác giúp cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự" [19].
Phân tích các quan điểm trên cho thấy, các quan điểm trên đều xác định đối tượng chứng minh là "tổng hợp" những vấn đề hay những tình tiết cần phải xác định để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Tuy nhiên, quan điểm thứ nhất về đối tượng chứng minh chưa bao hàm hết nội dung của đối tượng chứng minh. Cụ thể là khái niệm chưa bao hàm những vấn đề có liên quan đến vụ án cũng như đặt ra các biện pháp phòng ngừa là đối tượng chứng 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Ở quan điểm thứ hai, nội dung khái niệm mới chỉ mang tính liệt kê những tình tiết thuộc đối tượng chứng minh mà chưa thể hiện được bản chất của đối tượng chứng minh trong khái niệm, chưa nhắc đến các biện pháp phòng ngừa là một trong những vấn đề cần phải chứng minh khi giải quyết vụ án hình sự.
- Quan điểm thứ ba cho rằng: Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là tất cả những vấn đề chưa biết nhưng cần phải biết để làm sáng tỏ bản chất của vụ án, trên cơ sở đó các cơ quan tiến hành tố tụng ra các quyết định phù hợp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự [20]. Theo chúng tôi, quan điểm thứ ba đã thể hiện được bản chất của đối tượng chứng minh - là tất cả những vấn đề chưa biết nhưng cần phải biết để làm sáng tỏ bản chất của vụ án nhưng xét về nội hàm của khái niệm thì chưa được thật đầy đủ bởi vì nội dung khái niệm chưa bao quát các biện pháp phòng ngừa là một trong những vấn đề cần phải chứng minh khi giải quyết vụ án. - Quan điểm thứ tư cho rằng: Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là tất cả những vấn đề chưa biết nhưng cần phải biết để làm sáng tỏ bản chất của vụ án, trên cơ sở đó các cơ quan tiến hành tố tụng ra các quyết định phù hợp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và đề ra các biện pháp phòng ngừa [32]. Trong các quan điểm về đối tượng chứng minh, chúng tôi thấy quan điểm thứ tư tương đối hoàn chỉnh, thể hiện đầy đủ bản chất của đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự, coi các biện pháp phòng ngừa là một trong những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự.
Như chúng ta đã biết, tội phạm là một hiện tượng xã hội, gắn với xã hội có giai cấp nên tội phạm có sự vận động, biến đổi theo quy luật vận động của xã hội. Vì vậy, cùng với việc chứng minh tất cả những tình tiết làm sáng tỏ bản chất của vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng còn phải nghiên cứu, xác định các biện pháp phòng ngừa tội phạm cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của xã hội, đảm bảo yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm. Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu các quan điểm về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự, chúng tôi đưa ra quan điểm của mình về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự như sau: Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là tất cả những vấn đề chưa biết nhưng cần phải biết để làm sáng tỏ bản chất của vụ án, trên cơ sở đó các cơ quan tiến hành tố tụng ra các quyết định phù hợp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, đồng thời xác định các biện pháp phòng ngừa tội phạm cho phù hợp với sự phát triển của xã hội trong từng giai đoạn cụ thể. Nội dung đối tƣợng chứng minh Hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế rất đa dạng.
Do tính chất, mức độ và hoàn cảnh của các tội phạm không giống nhau nên phạm vi và yêu cầu xác định đối tượng chứng minh ở mỗi vụ án là khác nhau. Tuy vậy, mọi tội phạm đều có những đặc điểm, quy luật chung giống nhau mà quá trình giải quyết vụ án các cơ quan tiến hành tố tụng đều phải chứng minh [6]. Vì vậy, nhà làm luật đã xây dựng "khuôn mẫu chung" những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự để cơ quan tiến hành tố tụng căn cứ vào đó xác định đối tượng chứng minh cụ thể cho từng vụ án. Theo BLTTHS năm 2003, đối tượng chứng minh được quy định tại Điều 63 của Bộ luật, theo đó đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự gồm những vấn đề sau: - Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội, - Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý, có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội, - Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm nhân thân của bị can, bị cáo, - Tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra [29].
17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đối với vụ án do người chưa thành niên thực hiện thì ngoài những vấn đề cần phải chứng minh được quy định tại Điều 63 BLTTHS, cơ quan tiến hành tố tụng còn phải chứng minh những vấn đề được quy định tại Điều 302 BLTTHS, cụ thể là: "Tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người chưa thành niên; Điều kiện sinh sống và giáo dục; Có hay không có người thành niên xúi giục; Nguyên nhân và điều kiện phạm tội" [29]. Trong vụ án hình sự nếu có căn cứ cho rằng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự do mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, tức là họ không có năng lực chủ thể để tham gia tố tụng khi giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra phải làm sáng tỏ các vấn đề được quy định tại Điều 312 BLTTHS, bao gồm: "Hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra; Tình trạng tâm thần và bệnh tâm thần của người có hành vi nguy hiểm cho xã hội; Người có hành vi nguy hiểm cho xã hội có mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình hay không" [29].