Chương 1: Cơ sở lý luận của việc so sánh pháp luật Việt Nam và pháp luật Trung Quốc về các điều kiện kết hôn. Chương 2: Pháp luật hiện hành của Việt Nam và Trung Quốc về các điều kiện kết hôn. Chương 3: Phương hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về điều kiện kết hôn từ kinh nghiệm của Trung Quốc. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC VỀ CÁC ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN 1.
Những vấn đề chung về điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam và Trung Quốc 1. Khái niệm kết hôn Trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học luật hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) nói riêng, việc đưa ra một khái niệm đầy đủ về kết hôn có ý nghĩa quan trọng. Nó phản ánh quan điểm của Nhà nước về kết hôn, tạo cơ sở lý luận cho việc xác định bản chất pháp của lý của kết hôn, đồng thời xác định nội dung, phạm vi điều chỉnh của các qui phạm pháp luật HN&GĐ ở Việt Nam, nhiều khái niệm kết hôn đã được các nhà làm luật, các nhà nghiên cứu luật học, nghiên cứu ngôn ngữ đưa ra, chẳng bạn: Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học (phần chuyên ngành Luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật tố tụng dân sự) của Trường Đại học Luật Hà Nội giải thích: kết hôn là việc nam và nữ chính thức lấy nhau làm vợ, chồng theo quy định của pháp luật. Kết hôn đựợc hiểu là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân.
Việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được công nhận là hợp pháp [46, trang 150]. Trong pháp luật HN&GĐ Việt Nam, khái niệm kết hôn đã được các nhà làm luật và các nhà nghiên cứu luật học quan tâm hơn. Luật HN&GĐ năm 1986 trong phần giải nghĩa một số danh từ đã nêu: “Kết hôn là việc nam nữ lấy nhau thành vợ thành chồng theo quy định của pháp luật. Việc kết hôn phải tuân theo các Điều 5, 6, 7, 8 của Luật HN&GĐ”.
Luật HN&GĐ năm 2000 định nghĩa: “Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2014 (Luật hiện hành) thì định nghĩa “Kết hôn là việc nam nữa xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn [Điều 3, khoản 5]. Từ các khái niệm kết hôn nói trên cho thấy, mặc dù còn chứa đựng những quan điểm khác nhau, song chúng có hai đặc điểm chung sau: Thứ nhất, các nhà làm luật khi đưa ra khái niệm kết hôn đều xuất phát từ vị trí của kết hôn là một sự kiện thực tế mang tính xã hội, đó là việc nam nữ lấy nhau thành vợ thành chồng và xác lập quan hệ hôn nhân nhằm đảm bảo thực hiện những chức năng cơ bản mang tính xã hội của gia đình, trong đó sinh sản tái xuất ra con người là một trong những chức năng cơ bản nhất. Một người nam và một người nữ lấy nhau, chung sống và sinh con đẻ cái, xây dựng gia đình là việc làm mang tính bản năng, vốn có của con người, chính vì vậy, kết hôn là một quyền tự nhiên, một quyền cơ bản của con người.
Tuy nhiên, khi giai cấp thống trị xuất hiện và điều chỉnh các quan hệ xã hội trong đó có quan hệ hôn nhân gia đình theo ý chí của mình, đã đưa hôn nhân gia đình vào phạm trù quản lý toàn xã hội, làm cho xã hội có thể vận hành một cách tốt nhất. Từ đó, kết hôn không còn là một quyền tự do theo bản năng của con người nữa mà bị chi phối bởi ý chí và lợi ích của giai cấp thống trị. Nhưng cũng từ đó, nhu cầu cá nhân mới xuất hiện, đó là việc xác lập một cuộc hôn nhân được Nhà nước cộng nhận và bảovệ. Thứ hai, kết hôn qua các khái niệm này là một sự kiện pháp lý và có các đặc điểm sau: - Phải thể hiện ý chí của cả nam và nữ là mong muốn được kết hôn với nhau.
Điều này được thể hiện rõ khi hai bên nam nữ tiến hành đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn, cụ thể là thể hiện trong tờ khai đăng ký 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com kết hôn và thể hiện ý chí thông qua lời nói trước cơ quan đăng ký, rằng họ mong muốn được kết hôn với nhau, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không có sự cưỡng ép nào. Ý chí tự nguyện chính là một trong những điều kiện để đảm bảo đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. - Phải được Nhà nước thừa nhận Hôn nhân chỉ được Nhà nước thừa nhận khi việc xác lập quan hệ hôn nhân tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết, trong đó bao gồm điều kiện kết hôn về nội dung (các điều kiện để được kết hôn) và hình thức (đăng ký kết hôn). Cơ quan đăng ký kết hôn sau khi xem xét, xác nhận việc kết hôn của hai bên nam nữ là hợp pháp sẽ tiến hành đăng ký kết hôn cho họ theo đúng nghi thức của pháp luật và sau khi đã đăng ký xong, giữa hai bên nam nữ sẽ được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và chính thức xác lập quan hệ vợ chồng, phát sinh các quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật.
Việc kết hôn được Nhà nước thừa nhận có ý nghĩa quan trọng vì lúc này không những chỉ là mối quan hệ, trách nhiệm giữa hai bên nam nữ, mà còn là vấn đề mang tính xã hội, có tác động đến sự phát triển của xã hội, giữ gìn văn hóa truyền thống tốt đẹp và loại bỏ những hủ tục phản tiến bộ. Như vậy, kết hôn là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chồng giữa hai bên nam nữ và phải có điều kiện này quan hệ hôn nhân mới được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm kết hôn như sau: Kết hôn là hôn nhân được thành lập trên nền tảng pháp luật, chỉ việc hai bên nam nữ căn cứ theo các quy định của pháp luật về điều kiện và trình tự, xác lập quan hệ vợ chồng, chịu ràng buộc bởi các quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó. Khái niệm điều kiện kết hôn Theo Từ điển Tiếng Việt, “điều kiện” được giải thích với các ý nghĩa sau: 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Cái cần phải có để cho một cái khác có thể có hoặc có thể xảy ra. (Sản xuất có phát triển mới có điều kiện nâng cao đời sống. Tạo điều kiện hoàn thành kế hoạch). Điều nêu ra như một đòi hỏi trước khi thực hiện một việc nào đó.
(Đặt điều kiện. Ra điều kiện) 3. Những gì có thể tác động đến tính chất, sự tồn tại hoặc sự xảy ra của một cái gì đó (nói tổng quát); hoàn cảnh (Bay trong điều kiện thời tiết xấu. Cải thiện điều kiện ăn ở.
Điều kiện thuận lợi. Theo ba ý nghĩa được nêu trong Từ điển này, ta nên hiểu “điều kiện” trong “điều kiện kết hôn” theo nghĩa thứ hai, đó là “điều nêu ra như một đòi hỏi trước khi thực hiện một việc nào đó”, có nghĩa là “điều kiện kết hôn” là những điều kiện được đưa ra, đòi hỏi người muốn kết hôn phải đáp ứng được thì mới được phép kết hôn. Theo từ điển giải thích từ ngữ luật học: “Điều kiện kết hôn là điều kiện để Nhà nước công nhận việc kết hôn của hai bên nam nữ” [47, trang 79]. Hay nói các khác, điều kiện kết hôn là những đòi hỏi của pháp luật đặt ra khi hai bên nam nữ kết hôn, chỉ khi các bên đáp ứng đầy đủ các đòi hỏi đó thì việc kết hôn mới được coi là hợp pháp và được pháp luật thừa nhận, bảo vệ.
Chủ nghĩa Mác – Lê nin đã khẳng định: “Không ai bị buộc phải kết hôn, nhưng ai cũng bị buộc phải tuân theo luật hôn nhân một khi người đó kết hôn. hôn nhân không thể phục tùng sự tùy tiện của người kết hôn mà trái lại sự tùy tiện của người kết hôn phải phục tùng bản chất của hôn nhân” [Dẫn theo 37, trang 21]. Như vậy, không ai bị ép buộc phải kêt hôn tuy nhiên khi đã kết hôn thì người đó buộc phải tuân theo một khuôn khổ nhất định trong đó điều kiện kết hôn chính là những điều kiện tiên quyết mà người kết hôn phải phục tùng. Bởi trong xã hội có giai cấp, Nhà nước với tư cách đại diện 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho giai cấp thống trị phải sử dụng luật để quy định các điều kiện kết hôn, các quy định này được Nhà nước ban hành, thực thi và dùng sức mạnh cưỡng chế nhà nước để bảo đảm thực hiện.
Khi đó điều kiện kết hôn phản ánh điều kiện kinh tế xã hội, văn hóa truyền thống, phong tục tập quán của xã hội, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị. Như vậy, có thể hiểu: Điều kiện kết hôn là những yêu cầu của pháp luật mà người kết hôn phải đáp ứng được thì cuộc hôn nhân đó mới được coi là hợp pháp, xuất phát từ lợi ích của người kết hôn và yêu cầu phát triển của xã hội. Ý nghĩa của quy định về điều kiện kết hôn 1.Ý nghĩa về mặt pháp lý Kết hôn là sự kiện pháp lý xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai bên nam, nữ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ vợ chồng giữa họ với nhau. Việc quy định các điều kiện kết hôn, thủ tục kết hôn.
là cách để nhà nước quản lý việc kết hôn của các cá nhân trong xã hội góp phần đảm bảo trật tự gia đình, xã hội, phù hợp với thuần phong mỹ tục, bảo vệ được pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân, là tiền đề để xây dựng gia đình thực sự đầm ấm, bền vững và hạnh phúc. Ý nghĩa về mặt kinh tế - xã hội Tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam đang có những chuyễn biến mạnh mẽ dưới tác động của cả điều kiện, hoàn cảnh nội tại của đất nước và những tác động từ kinh tế - xã hội của thế giới. Lĩnh vực HN&GĐ cũng không nằm ngoài sự tác động đó.