Chương 1: Những tiền đề lý luận Trong chương này, chúng tôi giành trọn cho việc giới thiệu những quan niệm về danh từ trong tiếng Việt và tiếng Anh, nêu một số những quan niệm về từ đồng nghĩa nói chung và danh từ đồng nghĩa nói riêng. Chương 2: Khái quát về danh từ đồng nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Anh Ở chương này, chúng tôi nêu ra một số những khái niệm chung về danh từ đồng nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Anh dựa trên những văn bản tài liệu có sẳn trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, song song đó chúng tôi có một số nhận xét khái quát về danh từ đồng nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Anh. Chương 3: So sánh danh từ đồng nghĩa tiếng Việt và tiếng Anh 3.1 Những điểm giống nhau (về hình thức,ý nghĩa, phân bố …) 8 3.2 Những điểm khác nhau Phần cuối cùng là phần tài liệu tham khảo. Trong phần phụ lục, chúng tôi có thu thập và sắp xếp một số danh từ đồng nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Anh.
Những tiền đề lý luận 1.1 - Khái quát về danh từ trong Tiếng Việt Xuất phát từ những tiêu chuẩn định loại, có thể định nghĩa danh từ là thực từ có ý nghĩa thực thể Diệp Quang Ban [tr474] được dùng làm tên gọi các “vật” kết hợp được về phía trước với loại từ - với mạo từ chỉ lượng như những, các về phía sau với các chỉ định từ như này, nọ và thường làm chủ ngữ hoặc bổ ngữ trong câu. Đáng chú ý là danh từ tiếng Việt làm vị tố trong câu, không cần trợ động từ. Từ loại danh từ là một lớp lớn và đa dạng về ý nghĩa, về khả năng kết hợp, về công dụng thực tiễn nên thường được phân ra thành những lớp nhỏ theo những tiêu chuẩn khác nhau thích hợp ở từng bước phân loại. Sau đây lả những diện phân chia thường gặp: - Danh từ riêng - Danh từ chung - Danh từ tổng hợp - Danh từ không tổng hợp - Danh từ vật thể - Danh từ chất thể - Danh từ trừu tượng - Danh từ tập thể - Danh từ chỉ hiện tượng thời tiết - Danh từ đơn vị 11 - Danh từ đếm được - Danh từ không đếm được 1.1 – Danh từ riêng và danh từ chung: Sự phân biệt danh từ riêng với danh từ chung căn cứ vào cách gọi tên của chúng.
Danh từ riêng là tên gọi cụ thể của từng cá thể, còn danh từ chung là tên gọi của từng lớp sự vật, đồng chất về một phương diện nào đó- đó là cách gọi khái quát cho nhiều vật cụ thể thuộc cùng 1 lớp đồng chất ( danh từ chung chỉ vật đơn chất rất ít). Đó chính là tính chất trừu tượng từ vựng của danh từ chung. Đặc điểm định danh cá biệt sự vật tạo cho danh từ riêng những nét đặc thù về nghĩa. Về nghĩa, danh từ riêng không mang nghĩa, chúng là tên gọi của từng người, tên miền đất (địa danh), tên sách báo, tên thời đại, tên gọi những tổ chức cụ thể…về nguyên tắc đây là mối quan hệ một - một giữa tên gọi và vật được gọi tên, do đó yêu cầu của việc đặt tên riêng là phân biệt được từng vật cụ thể.
Kiểu quan hệ trực tiếp giữa vật được gọi tên đơn nhất với tên gọi nó như vậy được gọi là tự qui chiếu ( auto-reference). Trong sự phân tích nghỉa của câu, danh từ riêng thuộc về kiểu nghĩa kinh nghiệm. Danh từ riêng có loại thuần Việt và Hán Việt, có loại phiên từ tiếng nước ngoài. Xu hướng chung của việc đọc tên riêng nước ngoài hiện nay là có phận biệt tên bằng tiếng Trung Quốc với tên không phải bằng tiếng Trung Quốc.
Tên riêng tiếng Trung Quốc được đọc theo âm Hán Việt chứ không đọc theo âm Bắc Kinh; tên riêng các ngôn ngữ khác được phiên trực tiếp bằng tiếng gốc, không thông qua tiếng Hán như ở giai đoạn trước. Chẳng hạn có thể so sánh: tên thủ đô của nước Pháp trước kia đọc theo âm Hán Việt của cách phiên âm qua tiếng Trung Quốc là Ba Lê nay phiên âm trực tiếp từ tiếng Pháp là Pa-ri (Paris); thủ đô nước Nga trước kia phiên âm Hán Việt qua tiếng Trung Quốc là Mạc Tư Khoa nay phiên âm trực tiếp từ tiếng Nga là 12 Mát xcơ va (Mockva), chuyển tự la tinh hoá là Moskva. Cũng vậy, tên riêng của một triết gia mà nay phiên âm trực tiếp là Mác (Marx) đã từng được phiên qua tiếng Trung Quốc và đọc theo âm Hán Việt là Mã Khắc Tư. Đáng bàn là những trường hợp âm đọc của một số con chữ và tổ hợp con chữ ở tiếng gốc khác với ở tiếng Việt hoặc không có trong tiếng Việt, chẳng hạn: Chữ viết ở Tiếng Cách đọc ở tiếng Chuyển tự ra Phiên âm ra gốc gốc Tiếng Việt Tiếng Việt New York [niudooc] Niu-óoc [nuiooc] Mockva [maxkva] Mat-xcơ-va [mat-cơ-va] [Diệp Quang Ban, 2003, tr 476] Nếu trung thành với bảng chữ cái tiếng Việt thì tất nhiên có không ít con chữ của các tiếng gốc không phiên chuyển được (như chữ W trong New York ở trên).
Do đó đã từng có đề nghị viết nguyên dạng tên riêng của các ngôn ngữ chử cái la tinh và phiên chuyển từ tên riêng các ngôn ngữ không dung hộ chữ cái này sang bộ chữ cái la tinh theo qui ước quốc tế. Tuy nhiên mong muốn tôn trọng “nguyên chữ” này vấp phải khó khăn ngay cả với những người có trình độ học vấn cao và khó khăn cả trong việc đọc lẫn trong việc viết tên riêng, bời vì không dễ viết lại những tên đã được 1 ngoại ngữ khác phiên chuyển chẳng hạn như tên thủ đô Nga Mockva đọc như trong bảng đối chiếu trên, được chuyển sang tiếng Anh thành Moscow hay tiếng Pháp thành Moscou, người không biết tiếng Nga không thể chuyển thành La tinh hoá từ tiếng Nga thành Moskva được. Đó là những lí do dễ thấy nhất khiến cho chủ truơng chuyển tự không đứng vững được và tạo ưu thế cho quan điểm phiên âm, mặc dù quan điểm phiên âm cũng chất chứa những khó khăn riêng của nó (nhưng sự vắng mặt trong Tiếng Việt một số âm hay một số cách kết hợp âm của 13 tiếng gốc làm cho những tên riêng bị đọc chệch đi quá xa hoặc có nguy cơ đồng âm những tên riêng vốn khác nhau rõ ràng ở ngôn ngữ gốc.) Trong việc phiên tiếng nước ngoài, tiếng Việt có 1 biệt nhãn đối với tiếng Trung Quốc. Tên riêng Trung Quốc được đọc theo chữ viết và được đọc bằng âm Hán Việt chứ không đọc theo âm của tiếng Trung Quốc ngày nay.
Chẳng hạn như: Trung Quốc - Bắc Kinh – Lý Bạch. Cách viết tên riêng có xu thế trở thành phổ biến hiện nay do sự giản tiện về chính tả của nó. Đó là cách viết tên riêng bằng con chữ Hoa đứng đầu mỗi tiếng rời khi viết ( tức là những tiếng không dính liền với tiếng khác bằng dấu ngang nối. Dấu ngang nối chỉ dùng cho tên họ nước ngoài chứa nhiều âm tiết khi chuyển sang tiếng Việt.
Ví dụ: Nguyễn Bỉnh Khiêm – Các Mác - Việt Nam – Lào – Campuchia (Cam-pu-chia) Tuy nhiên không nên nêu việc viết hoa, tên họ tiếng nước ngoài thành nguyên tắc tuyệt đối và bỏ dấu ngang nối ở những tên gồm nhiều âm tiết, vì có những tiếng đệm vốn không được viết hoa trong nguyên chữ như từ “de” của tiếng Pháp, từ “von” của tiếng Đức về việc kết hợp với từ khác thì danh từ riêng không có khả năng kết hợp với từ chỉ lượng nói chung chỉ xảy ra khi có một số danh từ riêng trùng nhau hoặc khi danh từ riêng được dùng theo phép chuyển nghĩa để chỉ những câu tương tự, hoặc khi gặp nhiều danh từ riêng gộp lại thành khối riêng chẳng hạn: những Điện Biên Phủ, (để chỉ những chiến dịch lớn và thắng lợi như chiến dịch Điện Biên Phủ); những Bạch Đằng, Đống Đa, Chi Lăng…. Danh từ riêng tên người thuờng đi sau danh từ chỉ chức vụ đồng vị tố hoặc đi sau loại từ hoặc đi sau cả loại từ và danh từ chỉ chức vụ. Ví dụ : Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Hồ Chí Minh, cụ Chủ tịch Hồ Chí Minh. ( từ chỉ chức vụ và loại từ có thể viết hoa để tỏ sự kính trọng) 14 Danh từ chung là mảng từ lớn và đa dạng cần được xem xét ở một số diện khác nhau và ít nhiều có liên quan với nhau.2 - Danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp: Trong lớp lớn danh từ chung, việc tách ra lớp nhỏ danh từ tổng hợp là cấn thiết, không chỉ do ý nghĩa mà còn bởi đặc điểm ngữ pháp của bản than lớp con này.
Những danh từ chung không mang các đặc điểm ý nghiã và ngữ pháp của danh từ tổng hợp làm thành lớp còn lại đối lập với nó và được gọi là danh từ không tổng hợp. Danh từ tổng hợp bắt nguồn từ ý nghĩa ngữ pháp chung của lớp con này – ý nghĩa “tổng hợp”. Danh từ tổng hợp chỉ gộp chung nhiều sự vật đồng chất xét ở một phương diện nào đó và trong khối chung này đường ranh giới của các vật rời thường được xoá nhoà, bị nhoè đi. Còn danh từ không tổng hợp chỉ cả lớp sự vật đồng chất xét ở một phương diện nào đó hoặc thông qua từng cá thể sự vật như là đại diện cho cả lớp, ở đây mỗi vật rời vẫn giữ nguyên đường ranh giới của mình như một dấu hiệu hiển nhiên hoặc tiềm ẩn và sẽ bộc lộ những điều kiện nhất định.
So sánh: Danh từ tổng hợp Danh từ không tổng hợp - Cây cối - Bụi cây - Tre pheo - Tre xanh - Bạn bè - Bạn tôi - Xe cộ - Xe ngựa - Trâu bò - Trâu và bò Hiện tượng đường ranh giới giữa các vật rời bị nhoè đi ở danh từ tổng hợp giải thích khả năng dùng một danh từ tổng hợp gồm 2 tiếng chỉ vật khác nhau 15 để chỉ một số vật ừng với chỉ một tiếng trong nó thậm chí không ứng vớiý nghĩa của tiếng nào cả. Chẳng hạn như từ quần áo có thể chỉ cả từ quần lẫn áo, có thể chỉ một mớ toàn “quần” hoặc toàn “áo”, cũng có thể chỉ một mớ đồ vải nào đó không được coi là áo. Hiện tượng này cũng giải thích tại sao danh từ tổng hợp không thể trực tiếp đứng sau các số từ số đếm chính xác. Về mặt cấu tạo nghĩa, có thể chia danh từ tổng hợp thành các loại nhỏ.