aos DAI HOC QUOC GIA THANH PHO HO CHi MINH TRUONG DAI HOC KHOA HOC XA HOI VA NHAN VAN ae LIEU NHU UY SO SANH CAU TRÚC VÀ NGỮ NGHĨA TRẠNG NGỮ TRONG TIENG VIET VA TIENG HAN HIEN DAI LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH Mã số : 602201 Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Đình Phức THÀNH PHÓ HÒ CHÍ MINH - 2009 =a LÔØ CAMÔN Chúng †ôi xin †rân †rọng bày †ỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến với Tiến sĩ Nguyễn Đình Phức, người thầy đã tận †ình và kỹ lưỡng chỉ dạy †ôi từ những bước đầu tiên đến khi hoàn thành luận văn này. Chúng †ôi cũng xin tran trong cam on tat ca các Quý thay cé †rong hội đồng bảo vệ luận văn, các thầy cô đã đóng góp thêm nhiều ý kiến quý báu cho luận văn, cũng như bồ sung rất nhiều kiến thức cho bản thân Tôi. Nhân đây chúng †ôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến phòng Sau dai học, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phó Hồ Chí Minh, đã †ạo mọi điều kiện thuận lợi cho †ôi học †ập và hoàn thành luận văn này.
Đồng Nai, tháng 02 năm 2009 Tác giả luận văn Liêu Nhữ Ủy QUY ƯỚC TRÌNH BÀY LUẬN VĂN Trong luận văn này chúng tôi có sử dụng một số ký hiệu, chữ viết tắt như sau: Trạng ngữ, được viết tắt là: TrN Tất cả trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán đều dùng hình thức bôi đen, in đậm. MỤC LỤC Dẫn luận Tính cấp thiết của đề tài. Lịch sử vấn đề.--ccccccv tt ttrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrrree Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu.------:----- Y nghĩa khoa học và thực tiễn của GG ti cc ccccecessesssssssssssssssssssssssssssesesse CHUONG I CO SO LY THUYET I.
Khai niệm trạng ngữ trong ngôn ngữ học. Sự cần thiết phải so sánh trạng ngữ trong tiếng Việt M? 0:18) 2:0: 000. CHUONG II DAC DIEM CUA TRANG NGU TRONG TIENG VIET I. Thuat ngir “trang ngir” trong tiéng Viet.
Dac điểm của trạng ngữ trong tiếng J. Ở vị trí đầu câu. Ở vị trí cuối câu. Ở vị trí chen giữa chủ ngữ và vị ngữ.
Vấn đề phân loại trạng ngữ trong tiếng Việt. Phân loại trạng ngữ theo đặc điểm cấu tạo. Phân loại trạng ngữ theo nội dung (trạng ngữ xét trên bình diện nghĩa học). Trạng ngữ chỉ thời g1an.
Trạng ngữ chỉ không gian — nơi chốn. Trạng ngữ chỉ tình huống. Trạng ngữ chỉ cách thức — phương tiỆn. Trạng ngữ chỉ nguyên nhân.
Trạng ngữ chỉ mục đích. Trạng ngữ chỉ điều kiện/ giả thiết. Trang ngtt chi y nhurong BO. Trạng ngữ bố sung ý nghĩa so sánh.----c222222t+2cc222zzrrree 43 CHUONG III DAC DIEM CUA TRANG NGU TRONG TIENG HAN HIEN DAI I.
Thuat ngir “trang ngir” trong tiéng Han hién dai. Đặc điểm của trạng ngữ trong tiếng Hán hiện đại. Ở vị trí trước chủ ngữ. Ở vị trí chen giữa chủ ngữ và vị ngữ.---2-+-cc2222zErrrrcee 54 HI.
Vấn đề phân loại trạng ngữ trong tiếng Hán hiện đại. Trạng ngữ có tính chất hạn chế (J#f|‡È3}Ä3#). Trạng ngữ chỉ thời gian (I[ÏRJÑ3). Trạng ngữ chỉ nơi chốn (⁄Èf{Ñi#Í).
Trạng ngữ chỉ trình độ (J8J#JÑÌfi). Trạng ngữ chỉ đối tượng (X†Ấ⁄JÄï#i). Trạng ngữ chỉ mục đích (HÄÄÑ?#). Trạng ngữ chỉ phạm vi (ÿðÏ[lÄÄ3).
Trạng ngữ có tính chất miêu tả (‡# *4†kÄÑ3#). Trạng ngữ miêu tả người thực hiện động tác ren 60 b. Trạng ngữ miêu tả động tác (ii J{EfJ3|Äц#). 61 CHUONG IV DONG DI CUA TRANG NGU TRONG TIENG VIET VA TIENG HAN HIEN DAI I.
Bồ sung và tu sức (bao hàm vấn đề vị trí của trạng ngữ). Nhìn từ góc độ phân loại (bao hàm vấn đề phạm vỉ của trạng ngấ). Nhìn từ góc độ cấu trúc. Nhìn từ góc độ trật tự sắp xếp.re 81 V, Nhìn từ góc độ ngữ nghĩa.--- 5c: cccsrtierrrrrtrrrrrrrrrrrrrrrre 84 KẾT LUẬN.
ae 89 NGUON NGỮ LIỆU VĂN HỌC. 93 A - Nguồn ngữ liệu tiếng Việt. 93 B - Nguồn ngữ liệu tiếng Hán.e 94 TAT LIEU THAM KHẢO .-e 96 A - Tài liệu tiếng Việt.rre 96 B - Tài liệu tiếng Hán. 99 C - Tài liệu tiếng Anh.
TINH CAP THIET CUA DE TAI Ngày nay do sự phát triển của nền kinh tế thé giới với tốc độ phát triển khá nhanh, nên việc giao lưu, thông tin liên lạc với nhau cũng trở nên đa dạng và phức tạp. Một trong các phương tiện quan trọng dùng đề giao tiếp với nhau đó là ngôn ngữ của con người. Ngôn ngữ là một trong những công cụ quan trọng nhất trong cuộc sống của con người, con người có thê tiến bộ được chính nhờ vào sự phát triển và tồn tại của ngôn ngữ. Nếu loài người không có ngôn ngữ thi khong thé xuất hiện sự giao tiếp với nhau giữa người với người và sự giao thoa với nhau về văn hoá, cũng như những kiến thức của nhân loại.
Chính ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng như vậy, nên ngày nay việc học ngoại ngữ trở thành một nhu cầu cấp thiết và bức bách đối với mọi người thuộc thế hệ chúng ta. Hiên nay đã có nhiều sinh viên Việt Nam theo học tiếng Hán hiện đại tại các trường Đại học, một số lượng lớn nhân sự cũng như cán bộ công nhân viên theo học tiếng Hán hiện đại tại các trung tâm ngoại ngữ. Trong quá trình học tập, bên cạnh những mặt thuận lợi, học viên cũng gặp phải không ít khó khăn về nhiều mặt, trong đó có vấn đề về mặt ngữ pháp. Chúng ta đều biết, tổ chức cú pháp của một câu tiếng Hán ngoài ba thành phần chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ, còn có hai thành phần khác hết sức quan trọng, đó là thành phần tu sức (I#fiï#) và bé sung (*È?š#).
Thành thành tu sức bao gồm trạng ngữ và định ngữ, thành thành bồ sung bao gồm các loại bổ ngữ; như bổ ngữ chỉ khả năng, bổ ngữ chỉ trình độ, bổ ngữ chỉ xu hướng, bổ ngữ chỉ kết quả, bổ ngữ chỉ số lượng,.Trong các thành phần nêu trên, thành phần trạng ngữ có vai trò không kém phần quan trọng trong việc tổ chức cấu trúc câu. Bản thân tôi 7 trong suốt quá trình học tập ở bậc Đại học cũng đã từng luôn lẫn lộn giữa trạng ngữ và định ngữ, luôn lờ mờ về cấu trúc cũng như ngữ nghĩa của trạng ngữ và bổ ngữ trong câu, đặc biệt đối với thành phần trạng ngữ, không thê phân biệt một cách lý tính đâu là trạng ngữ miêu tả phương thức tiến hành của động tác, đâu là trạng ngữ miêu tả trạng thái tâm lý của người thực hiện động tác. Theo thống kê của hai học giả Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp trong Thành phân câu tiếng Việt, truyện ngắn Hết một buổi chiêu (in trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 30A, Hà Nội, 1981), có lượng câu mang trạng ngữ chiếm 30% tổng số câu có trong tác phẩm”. Tác phẩm Bối ảnh (45%) của nhà văn Trung Quốc hiện đại Chu Tự Thanh 2 Afi, qua khảo sát và thống kê, chúng tôi phát hiện, có tới 94,2% trên tổng số câu văn thuộc tác phẩm có sử dụng trạng ngữ”.
Từ đây chúng tôi có thé thay được vai trò quan trọng của trạng ngữ trong việc biểu đạt ngôn ngữ trong tiếng Hán hiện đại cũng như tiếng Việt. Cũng chính bởi nguyên nhân nói trên, chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “ So sánh cấu trúc và ngữ nghĩa trạng ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán hiện đại” làm đề tài cho luận văn mình. LICH SU VAN DE 1. Lịch sử nghiên cứu trạng ngữ trong tiếng Việt Trạng ngữ là một vấn đề từ lâu đã được nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm nghiên cứu.
Kế từ khi hai chữ “trạng ngữ” được chính thức ra đời và đưa vào ” Theo thống kê của Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp trong Thành phần câu tiếng Việt, truyện ngắn Hết một buổi chiêu (in trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 30A, Hà Nội, 1981), có lượng câu mang trạng ngữ chiếm 30% tổng số câu. (Xem Thành phân câu tiếng Việt, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999, tr. ? Hán ngữ cao cấp giáo trinh (WUE mi RBA) , tập 1, Tập thê tác giả Đại học Bắc Kinh, Bắc Kinh đại học xuất bản xã, 2002, tr.
sử dụng, cho đến nay hầu như không một bộ giáo trình ngữ pháp tiếng Việt nào không đề cập đến thành phần này. Mặc dù quan niệm về thành phần trạng ngữ trong tiếng Việt, giữa các học giả, đôi khi còn nảy sinh những bất đồng nhất định, nhưng chung quy đều thống nhất coi nó là thành phần phụ quan trọng, bé sung y nghia cho su tinh dugc biéu đạt trong câu. Thành tựu nghiên cứu về trạng ngữ phần lớn được trình bày trong các công trình sau: Khái niệm ngôn ngữ học, Nguyễn Văn Tu, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1960.
Giáo trình Việt ngữ, Hoàng Tuệ, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1962. Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, Nguyễn Kim Thản, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1964.
Ngữ pháp tiếng Việt, Hoàng Trọng Phiến, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1980. Ngữ pháp tiếng Việt - từ loại, Đình Văn Đức, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1986.
Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2004. Ngữ pháp tiếng Việt, Nguyễn Hữu Quỳnh, Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2002.
Thành phân câu tiếng Việt, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998. Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, quyên 1, Câu trong tiếng Việt (cấu trúc — nghĩa — công dụng), Cao Xuân Hạo (chủ biên), Nxb. Lịch sử nghiên cứu trạng ngữ trong tiếng Hán Thuật ngt “Kis zhuàng yũ” (phiên âm Hán Việt của hai chữ này là: trạng ngữ) trong tiếng Hán được các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc sử dụng tương đối muộn.
Phải mãi đến cuối thế kỷ 19, khi Mã Kiến Trung, một trí thức Tây học, từng có thời gian đài du học tại Pháp, thông hiểu nhiều thứ tiếng như Pháp, Anh, Hy Lạp, La Tinh,. đã đem hệ thống ngữ pháp Tây phương áp dụng vào nghiên cứu ngữ pháp tiếng Hán, và cho ra doi Ma thi văn thông (*9ƒ§ 3Ä} , bộ ngữ pháp đầu tiên, xuất bản năm 1898 tại Trung Quốc, thì thuật ngữ “trạng ngữ” mới chính thức được sử dụng. Từ những năm 50 của thế kỷ 20, thuật ngữ “trạng ngữ” bắt đầu được sử dụng phổ biến và ngày càng nhận được sự chú ý nghiên cứu từ nhiều nhà Hán ngữ học, đặc biệt là từ sau Đại cách mạng văn hoá kết thúc đến nay.