Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài Chương này trình bày tình hình nghiên cứu về cầu khiến và cầu khiến gián tiếp từ các góc độ nghiên cứu ở phương tây, Việt Nam và Trung Quốc. Đồng thời, trình bày những cơ sở lý thuyết có liên quan, để triển khai nội dung của luận án. Khảo sát phát ngôn cầu khiến gián tiếp tiếng Việt Chương này miêu tả, phân tích đặc điểm các kiểu PNCKGT có quy ước và phi quy ước trong tiếng Việt.
Khảo sát phát ngôn cầu khiến gián tiếp tiếng Hán 9 Miêu tả, phân tích đặc điểm các kiểu PNCKGT có quy ước và phi quy ước trong tiếng Hán. Đối chiếu phát ngôn cầu khiến gián tiếp trong tiếng Việt với tiếng Hán Chương này đối chiếu PNCKGT trong tiếng Việt với tiếng Hán ở mặt cấu trúc ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Chẳng hạn: đối chiếu các dạng thức của PNCKGT trong tiếng Việt với tiếng Hán, đối chiếu ý nghĩa và mức cầu khiến của PNCKGT trong tiếng Việt với tiếng Hán, lực ngôn trung trong PNCKGT tiếng Việt với tiếng Hán, phân tích một số nhân tố tạo ra những điểm khác nhau của PNCKGT trong tiếng Việt và tiếng Hán. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI Chương này tổng quan các nghiên cứu ở phương Tây, Việt Nam và Trung Quốc từ các góc độ khác nhau.
Đồng thời, luận án sẽ giới thiệu một số cơ sở lý thuyết như: lý thuyết hành động ngôn từ, hành động cầu khiến trực tiếp / gián tiếp, lịch sự, thể diện, văn hoá và giao tiếp liên văn hoá, lý thuyết hội thoại, vấn đề cơ bản về đối chiếu ngôn ngữ.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu phát ngôn cầu khiến gián tiếp ở phương Tây Cầu khiến là một hiện tượng ngôn ngữ phổ biến trong các ngôn ngữ, cũng thu hút được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu ngôn ngữ học. Ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, lý thuyết hành động ngôn từ lần đầu tiên được nêu ra bởi Austin. Dưới góc nhìn này, một số nghiên cứu về cầu khiến gián tiếp được các học giả phương Tây triển khai: Nếu cần bước sâu phân biệt kiểu loại của HĐCK, thì dựa trên phương pháp phân biệt hành động ngôn từ trực tiếp và gián tiếp trong công trình nghiên cứu của Searle (1975, 1979), HĐCK nên được chia thành cầu khiến trực tiếp (hiển ngôn) và cầu khiến gián tiếp (hàm ngôn). Tác giả cho rằng, cầu khiến gián tiếp là “hành động ngôn từ gián tiếp, chính là thông qua thực thi một hành động ngôn trung khác, để thực hiện một hành động ngôn trung nào đó một cách gián tiếp” [Trích từ 赵微 (Triệu Vi), 2005, tr.
Trong quá trình lý giải ý nghĩa cầu khiến trong PNCKGT, quá trình thao tác suy ý là không thể thiếu được. Điều này yêu cầu người nghe phải biết đến bối cảnh văn hóa trong cuộc giao tiếp và các thông tin khác ngoài ngôn ngữ, mới nắm bắt được ý muốn của người nói. Searle (1975) chỉ ra, lịch sự là động cơ thứ nhất thúc đẩy người nói lựa chọn sử dụng chiến lược gián tiếp để biểu hiện ý muốn của mình. Và “phát ngôn phải theo quán lệ” cũng là một nguyên nhân chính làm cho người nói chọn dùng phương thức gián tiếp để biểu hiện ý muốn cầu khiến.11] Có thế nói, những quan điểm của các học giả phương Tây có ảnh hưởng to lớn 11 đến việc nghiên cứu HĐCKGT.
Khi nghiên cứu về hành động / PNCKGT, đa số học giả Việt Nam và Trung Quốc lấy những lý thuyết liên quan của phương Tây làm cơ sở, để nghiên cứu các hiện tượng ngôn ngữ trong tiếng Việt và tiếng Hán. Luận án xin trình bày những nội dung này trong phần tiếp theo.2 Tình hình nghiên cứu phát ngôn cầu khiến gián tiếp ở Việt Nam Trong tiếng Việt, HĐCK được giới nghiên cứu Việt ngữ gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như: cầu khiến / khuyến lệnh / điều khiển…[Trích từ Vũ Lan Hương, 2018, tr.41], luận án này xin dùng thuật ngữ cầu khiến. Trong những nghiên cứu ở Việt Nam, PNCKGT chủ yếu được nghiên cứu ở bình diện ngữ dụng học. Trong giáo trình <Một số vấn đề ngữ pháp – ngữ nghĩa của lời (Trường hợp lời cầu khiến tiếng Việt)> (2012)[20], Đào Thanh Lan cho rằng, PNCKGT nên được phân loại theo hình thức câu như: phát ngôn hỏi – cầu khiến, phát ngôn trần thuật – cầu khiến, phát ngôn cảm thán – cầu khiến.
PNCKGT lại có các kiểu biểu thức hỏi – cầu khiến đồng hướng và ngược hướng. Phát ngôn hỏi – cầu khiến đồng hướng nhằm mục đích cầu khiến hành động nêu trong lời, có dạng thức: Hay + P?); P+ chứ?; P + có được không / được không?.Còn cầu khiến ngược hướng nhằm mục đích cầu khiến ngăn cấm hành động đã nêu trong lời, hoặc yêu cầu thực hiện hành động ngược lại những hành động đã nêu trong lời hỏi [Trích từ Đào Thanh Lan, 2012, tr.207], bao gồm những dạng thức như: Ai + P?; Sao / tại sao/ + P?; P + làm gì? / V+ gì?. Kiểu trần thuật – cầu khiến có dạng thức D1/ D3 + mong / muốn + V(p). Về phát ngôn cảm thán – cầu khiến, thì luôn chứa các từ cảm thán, hoặc từ ngữ có giá trị biểu cảm, đánh giá, mô hình tiêu biểu là: D1 / D3 + Vt + Tck.
[Đào Thanh Lan, 2012, tr.214 - 215] Trong luận án (2019) của Lê Thị Tố Uyên[28], tác giả áp dụng lý luận của Đào Thanh Lan, cho rằng lời cầu khiến, lời trần thuật, lời hỏi đều có vai trò thể hiện cầu khiến như: ra lệnh, cấm đoán, đề nghị, dặn, xin/xin phép, cầu …So với cầu khiến nguyên cấp và bán tường minh, HĐCK với biểu thức gián tiếp được trẻ em sử dụng nhiều hơn. So sánh với biểu thức hỏi – cầu khiến, thì biểu thức trần thuật – cầu khiến được sử dụng nhiều hơn. Trong khi đó, hành động đề nghị gián tiếp là tiểu 12 loại được trẻ em sử dụng nhiều nhất, đó là phát ngôn mách nhằm mục đích tạo động cơ để thúc đẩy người nghe thực hiện hành động theo ý mình. Theo tác giả, lực ngôn trung và vị thế giao tiếp của người tham thoại là những nhân tố liên quan đến việc lựa chọn biểu thức cầu khiến.
Còn về việc tiếp nhận HĐCK, các trẻ bình thường, thiểu năng ngôn ngữ, khiếm thính đều có khả năng tiếp nhận được PNCKTT, cũng suy ý được nội dung của PNCKGT. Vũ Thị Thanh Hương phân tích tính gián tiếp và lịch sự trong PNCK tiếng Việt[13]. Tác giả cho thấy, khi phân loại PNCKGT nên dựa vào hai tiêu chí: 1) Sự khác biệt về mặt hệ hình hay là mức trực tiếp / gián tiếp. 2) Sự khác biệt về mặt cú đoạn hay là sự vắng mặt / có mặt của các thành phần bổ trợ.
PNCKGT trong tiếng Việt nên được phân thành hai loại lớn: 1) Gián tiếp bậc một – HĐCK không được biểu hiện trực tiếp bằng mệnh đề chính ở kiến trúc mệnh đề mà được suy ra gián tiếp nhờ tính quy ước của phương tiện biểu hiện. Các phương tiện quy ước được dùng để đánh dấu hành động gián tiếp luôn là nêu ra ý muốn (Mẹ muốn con dọn nhà.), hoặc là những phát ngôn hỏi dò về khả năng thực hiện (Con dọn nhà hộ mẹ được không?), phát ngôn hỏi về lý do (Sao con không dọn nhà hộ mẹ đi?), hay điều kiện chuẩn bị (Chị còn tiền đây không?). 2) Gián tiếp bậc hai – HĐCK không được biểu hiện trực tiếp bằng mệnh đề chính ở kiến trúc mệnh lệnh hoặc được suy ra nhờ tính quy ước của các phương tiện biểu hiện mà được suy ra gián tiếp từ sự liên tưởng quy chiếu giữa sự vật, đặc trưng hay hành động được nói đến với ý định cầu khiến nhờ sự gợi ý của tình huống giao tiếp (Tôi hết mất tiền rồi! Ở đây nóng quá!) [Vũ Thị Thanh Hương, 1999, Tạp chí Ngôn ngữ (1), tr.] Bùi Mạnh Hùng (1999) [9] khẳng định rằng cảnh báo cũng là một tiểu loại thuộc nhóm HĐCK, nhằm mục đích ngăn chặn tiếp ngôn tránh khỏi những sự tình có thiệt hại. Trong tiếng Việt, cách thể hiện cảnh báo có hai cách: + Hàm ẩn.
Đoạn đường này dốc và khúc khuỷu. Tác giả quy nạp các đặc điểm của cảnh báo hàm ẩn (gián tiếp) trong tiếng Việt là: + Biểu thị một sự tình tiêu cực hoặc dẫn đến hậu quả xấu theo sự đánh giá thông thường. + Người nhận phát ngôn có can dự đến sự tình đó và có thể phải chịu hậu quả xấu nhưng 13 không nhận thức được khả năng xảy ra hậu quả đó. + Hậu quả đó có thể được loại bỏ hoặc hạn chế người nhận có hành động thích hợp.33] Nguyễn Văn Độ trong bài “Lời thỉnh cầu “Bóng gió” trong tiếng Anh và tiếng Việt” [3], khẳng định rằng: Thỉnh cầu “bóng gió” thuộc nhóm hành động gián tiếp không có quy ước mà nhằm mục đích thỉnh cầu, lời thỉnh cầu “bóng gió” cũng là một loại PNCKGT.
Ông phân loại lời thỉnh cầu “bóng gió” dựa theo lực ngôn trung (illocutionary force)và nội dung mệnh đề, phân chia độ mờ trong lực ngôn trung thành 3 loại: + Tìm hiểu sự cam kết của người nghe như: Bà có bằng lòng thì em mới dám hỏi. + Tìm hiểu tính khả thi: Nhà anh có gạo không? + Đưa nguyên do: Hôm qua mình vừa đến cửa hàng thì họ đóng cửa nên không mua được cuốn sách thầy yêu cầu mua. Cậu cho mình mượn cuốn của cậu tối nay thôi được không? Và tác giả xếp độ mờ như trên từ “tương đối tỏ” đến “hoàn toàn mờ” theo trật tự: loại tìm hiểu sự cam kết của người nghe>loại tìm hiểu tính khả thi>loại đưa nguyên do. Dương Tuyết Hạnh (2006) [7]nghiên cứu hiện tượng “hành vi chủ hướng hàm ẩn trong tham thoại”.
Trong những ngữ cảnh đặc thù, một số hành động dẫn nhập từ người nói được thể hiện bằng nhiều tiểu nhóm hành động như miêu tả, thông báo, đánh giá… có nghĩa hàm ẩn tương đương như nhờ vả, đề nghị, ra lệnh… [Dương Tuyết Hạnh, 2006, Tạp chí Ngôn ngữ (6), tr. Những phát ngôn thể hiện hành động chủ hướng hàm ẩn trong tham thoại thực ra là PNCK với cách gián tiếp, có thể là hình thức trần thuật, cảm thán, hoặc là nghi vấn, nhằm mục đích gợi ý người nghe thực hiện hành động nào đó theo người nói. Yêu cầu người nghe kết hợp bối cảnh văn hóa cộng đồng và phép lịch sự, để suy ý đích ngôn trung của lời. Chẳng hạn: SP1: Mẹ ơi.
(Thỉnh cầu SP2 mở cửa cho) SP2: Mày sang chuồng lợn nhà bác Thạo mà ngủ./ SP1: Bản viết tay hơi khó xem.