phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo gồm có 3 chƣơng CHƢƠNG 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận CHƢƠNG 2: Đặc điểm cấu trúc-ngữ nghĩa câu hỏi chính danh (tiểu loại câu hỏi có từ hỏi) trong tiếng Việt và tiếng Hàn CHƢƠNG 3: Đối chiếu đặc điểm cấu trúc- ngữ nghĩa câu hỏi chính danh (tiểu loại câu hỏi có từ hỏi) trong tiếng Việt và tiếng Hàn 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Câu nghi vấn (câu hỏi) dùng để hỏi là một vấn đề thu hút đƣợc nhiều sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ ở trong và ngoài nƣớc. Ở trong nƣớc : Nguyễn Thị Thìn (1994) trong luận án phó tiến sĩ đã nghiên cứu câu nghi vấn Tiếng Việt:một số kiểu câu nghi vấn không dùng để hỏi. Luận án này chỉ tập trung vào nghiên cứu một số kiểu câu nghi vấn không dùng để hỏi chứ không đề cập đến những kiểu câu nghi vấn có từ hỏi nhằm tìm kiếm thông tin chƣa biết.
Nguyễn Thị Quỳnh Hoa (1996) đã nghiên cứu sự chuyển đổi vị trí chủ- vị của câu hỏi Anh -Việt. Cũng thời gian đó, Đào Thị Minh Nguyệt (1996) quan tâm đến chiến lƣợc lịch sự trong dùng câu hỏi Anh- Việt. Lê Đông (1996) đã nghiên cứu ngữ nghĩa - ứng dụng câu hỏi chính danh (trên ngữ liệu tiếng Việt) trong luận án tiến sĩ. Luận án này đã đi sâu vào nghiên cứu ngữ nghĩa - ứng dụng của câu hỏi chính danh nói chung chứ không nghiên cứu về cấu trúc câu hỏi chính danh (tiểu loại câu hỏi có từ hỏi) Trần Mai Chi (luận văn thạc sĩ, 2000) mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu cấu trúc và phƣơng tiện biểu hiện của câu hỏi chính danh trong tiếng Anh và Tiếng Việt chứ chƣa đi sâu vào phân tích cấu trúc- ngữ nghĩa của câu hỏi chính danh (tiểu loại câu hỏi có từ hỏi) Võ Đại Quang (2000) trong luận án tiến sĩ về đối chiếu song ngữ Anh-Việt ở bình diện ngữ nghĩa- ngữ dụng của câu hỏi chính danh đã chỉ ra sự tƣơng đồng và khác biệt về mặt ngữ nghĩa-ngữ dụng của các kiểu loại câu hỏi chính danh Anh- Việt.
Nguyễn Đăng Sửu (2002) đã đối chiếu câu hỏi tiếng Anh và câu hỏi tiếng Việt trong luận án tiến sĩ của mình. Dựa vào lý thuyết hành vi ngôn ngữ, lý thuyết hội thoại. tác giả đã đối chiếu câu hỏi đích thực và câu hỏi không đích thực tiếng 8 Anh trong sự đối chiếu với tiếng Việt. Trong phần đối chiếu câu hỏi đích thực, tác giả cũng đã chỉ ra những điểm tƣơng đồng và khác biệt câu hỏi có từ nghi vấn trong tiếng Anh và trong tiếng Việt nhƣng vẫn chƣa đi sâu vào phân tích cụ thể về mặt cấu trúc- ngữ nghĩa của tiểu loại câu hỏi này.
Nguyễn Thị Châu Anh (luận án tiến sĩ, 2011) đã chọn vấn đề „So sánh câu nghi vấn trong tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện ngữ dụng học‟ làm đề tài nghiên cứu của mình. Trong luận án này, tác giả tập trung nghiên cứu câu nghi vấn trên bình diện ngữ dụng học, không đề cập đến câu nghi vấn trên bình diện cấu trúc- ngữ nghĩa. Mặc dù cũng có nhiều công trình nghiên cứu về câu nghi vấn (câu hỏi) nhƣng chủ yếu là các công trình nghiên cứu câu hỏi tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện cấu trúc, ngữ nghĩa- ngữ dụng, chứ chƣa có bất cứ công trình nghiên cứu nào đi sâu vào phân tích đặc điểm cấu trúc –ngữ nghĩa của câu hỏi chính danh (tiểu loại câu hỏi có từ hỏi) tiếng Việt và tiếng Hàn. Ở nƣớc ngoài: Câu nghi vấn (câu hỏi) cũng là một trong những đề tài thu hút đƣợc sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà nghiên cứu ngữ pháp Hàn Quốc.
곽효동 (Koak Hyo Dong) ( 2010) đã nghiên cứu đối chiếu câu nghi vấn và từ nghi vấn Hàn- Trung trong luận văn thạc sĩ của mình.왕페이 (Wang Phye Lee)(2011) cũng chọn đề tài “의문문에 대한 한- 중 대조 연구” (nghiên cứu đối chiếu Hàn-Trung về câu nghi vấn). 박영옥( Park Yoong Ok) (2013) với luận văn đối chiếu so sánh câu có hình thức nghi vấn trong tiếng Hàn và tiếng Đức. 윤경원 (Kyong Won Yoon)(2013) với đề tài “ 태국인 학습자를 위한 한국어 부정표 현 의문문에 관한 연구” (nghiên cứu câu nghi vấn có hình thức phủ định tiếng Hàn cho ngƣời học là ngƣời Thái Lan). Các tác giả trên đã nghiên cứu theo các hƣớng khác nhau với những mục đích khác nhau.
Tuy nhiên đối tƣợng nghiên cứu đều xoay quanh các vấn đề liên 9 quan đến câu nghi vấn. Tuy nhiên cho đến nay, đối chiếu đặc điểm cấu trúc-ngữ nghĩa câu hỏi chính danh trong tiếng Việt và tiếng Hàn là đề tài hoàn toàn chƣa đƣợc nghiên cứu. Chúng tôi hi vọng kết quả nghiên cứu sẽ là tƣ liệu bổ ích đối với những ai đang học tập, nghiên cứu và sử dụng hai ngôn ngữ này.Một số quan điểm của các nhà ngữ pháp học về câu nghi vấn (câu hỏi) 1. Một số vấn đề lý thuyết về câu và phân loại câu.
Có khá nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề liên quan đến định nghĩa câu và phân loại câu của các nhà ngữ pháp Việt Nam nhƣ của Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo.Vấn đề định nghĩa câu phụ thuộc vào góc nhìn của nhà nghiên cứu, vào mục đích nghiên cứu và giảng dạy cũng nhƣ học tập ngữ pháp. Ở đây chúng tôi dựa theo định nghĩa của tác giả Diệp Quang Ban vì đó là cơ sở quan trọng phục vụ cho đề tài nghiên cứu. Diệp Quang Ban dựa vào bốn tiêu chí: hình thức, nội dung, chức năng và lĩnh vực nghiên cứu đã nêu lên định nghĩa về câu nhƣ sau: “ Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tƣơng đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của ngƣời nói, giúp hình thành và biểu hiện truyền đạt tƣ tƣởng, tình cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ.106] Diệp Quang Ban phân loại câu theo 2 tiêu chí: (1) Phân loại câu theo cấu tạo : câu đơn, câu ghép , câu phức a/ Câu đơn là câu có cấu tạo ngữ pháp chỉ có một kết cấu chủ - vị làm nòng cốt câu.
- Câu đơn có thể chia thành: câu đơn hai thành phần, câu đơn đặc biệt. b/ Câu phức là câu có từ hai kết cấu chủ-vị trở lên, trong đó chỉ có một kết cấu chủ-vị làm nòng cốt câu, các kết cấu chủ-vị còn lại mở rộng thành phần nào đó bên trong nòng cốt câu. Nó mở rộng thành phần nào thì gọi tên thành phần đó. - Câu phức chủ ngữ - Câu phức vị ngữ 10 - Câu phức định ngữ - Câu phức bổ ngữ - Câu phức trạng ngữ c/ Câu ghép: là câu có hai kết cấu chủ - vị trở lên, mỗi kết cấu chủ-vị làm thành một vế câu, chúng không bao hàm lẫn nhau.
• Câu ghép có quan hệ từ - Câu ghép đẳng lập - Câu ghép chính phụ -Câu ghép qua lại • Câu ghép không có quan hệ từ - Câu ghép chuỗi (2) Phân loại câu theo mục đích nói có 4 kiểu câu: a/ Câu trần thuật đƣợc dùng để kể, xác nhận (là có hay không có), mô tả sự vật với các đặc trƣng (hoạt động, trạng thái, tính chất, quan hệ) của nó, hoặc một sự kiện với các chi tiết nào đó. b/ Câu nghi vấn thƣờng đƣợc dùng để nêu lên điều chƣa biết hoặc còn hoài nghi và chờ đợi câu trả lời, giải thích của ngƣời tiếp nhận câu đó. c/ Câu mệnh lệnh (còn gọi là câu cầu khiến) đƣợc dùng để bày tỏ ý nhờ hay bắt buộc ngƣời nghe thực hiện điều đƣợc nêu lên trong câu, là câu có mục đích khuyên bảo, sai khiến, ra lệnh. đối với ngƣời tiếp nhận lời.
d/ Câu cảm thán đƣợc dùng khi cần thể hiện đến một mức độ nhất định những tình cảm khác nhau, thái độ đánh giá, những trạng thái tinh thần khác của ngƣời nói đối với sự vật hay sự kiện mà câu nói đề cập hoặc ám chỉ. Ở luận văn này, chúng tôi xin trình bày phần liên quan đến câu nghi vấn (câu hỏi). Quan điểm của các nhà ngữ pháp học Việt Nam về câu nghi vấn (câu hỏi) Trong số các kiểu câu phân loại theo mục đích giao tiếp thì câu hỏi là một hiện tƣợng phổ quát của tất cả các ngôn ngữ trên thế giới. Không ai trong hoạt động 11 giao tiếp và tƣ duy hàng ngày mà không sử dụng câu hỏi.
Chúng ta hỏi để tìm kiếm thông tin chƣa biết, chƣa hiểu, hỏi để trao đổi thông tin. Đôi khi hỏi để chia sẻ cảm thông, hỏi để khẳng định, hỏi để chào, hỏi mỉa mai…Có thể nói rằng câu hỏi là yếu tố thƣờng xuyên tham gia vào quá trình hội thoại và không thể thiếu trong giao tiếp. Câu hỏi đƣợc các nhà ngữ pháp, ngôn ngữ Việt Nam xem xét, miêu tả và lý giải từ nhiều góc độ khác nhau nhƣng tựu trung là quan điểm ngữ pháp truyền thống, cấu trúc có kết hợp với cách lý giải logic học Trần Trọng Kim, quan điểm cú pháp- ngữ nghĩa Nguyễn Kim Thản, Hoàng Trọng Phiến, Diệp Quang Ban, và gần đây là quan điểm chức năng của nhiều tác giả khác trong đó có Cao Xuân Hạo. Trƣớc đây, trong các sách ngữ pháp, khi nghiên cứu về câu hỏi, các tác giả thƣờng ít chú ý đến xây dựng một định nghĩa chính xác và đầy đủ về câu hỏi trong tiếng Việt mà chỉ xét câu hỏi nhƣ một hiện tƣợng thực tế của tiếng Việt.
Nguyễn Kim Thản [18 ,tr 599] dùng thuật ngữ “ câu nghi vấn” và cho rằng “Câu nghi vấn nhằm mục đích nêu lên sự hoài nghi của ngƣời nói và nói chung đòi ngƣời nghe tƣờng thuật về đối tƣợng hay đặc trƣng của đối tƣợng. Nó không chứa đựng phán đoán vì nó chƣa khẳng định hay phủ định gì cả, nó không thật mà cũng không giả”. Tác giả đã phân chia câu nghi vấn tiếng Việt thành bốn loại: (1) Câu nghi vấn chân chính: là những câu thực sự nhằm mục đích nêu lên sự hoài nghi của ngƣời nói và đòi hỏi ngƣời nghe chỉ rõ những vấn đề mà ngƣời khác chƣa sáng tỏ; (2) Câu tự vấn: là kiểu câu mà ngƣời nói nêu lên vấn đề mình chƣa thể giải đáp, thƣờng là để tâm sự; (3) Câu hỏi dồn: nhằm dồn đối tƣợng vào chỗ phải thừa nhận hoặc phải thực hiện một chủ định có sẵn của ngƣời nói.