Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Mô tả đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ dụng của câu chuyển giao có chứa động từ mang ý nghĩa trao/nhận trong tiếng Việt và tiếng Nhật Chương 4: Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa của câu chuyển giao có động từ mang ý nghĩa trao/nhận trong tiếng Việt và tiếng Nhật Chương 5: Đối chiếu đặc điểm ngữ dụng của câu chuyển giao có chứa động từ mang ý nghĩa trao/nhận trong tiếng Việt và tiếng Nhật 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Câu chuyển giao có chứa động từ mang ý nghĩa trao/nhận có một vai trò rất quan trọng trong hội thoại giao tiếp thông thường, nó đã được đề cập đến như một hiện tượng ngữ pháp đặc biệt trong ngữ pháp tiếng Nhật. Có khá nhiều công trình nghiên cứu đối chiếu sự giống và khác nhau của dạng câu có hành vi trao nhận (授受表現) trong tiếng Nhật với tiếng Hàn, tiếng Trung, tiếng Anh, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ,. Trong phạm vi tìm kiếm, luận văn nhận thấy đa số hướng tiếp cận của các nghiên cứu đối chiếu giữa tiếng Nhật với tiếng Trung, tiếng Hàn đều dựa trên cơ sở nhận diện nhóm động từ trao/nhận trong hai ngôn ngữ rồi tiến hành phân tích quá trình biến đổi của động từ theo các lớp nghĩa. 尹 (Yoon, 2013), trên cơ sở nhận diện nhóm động từ trao nhận trong tiếng Nhật và tiếng Hàn, đã sử dụng lí thuyết ngữ pháp hóa để tiến hành phân tích quá trình biến đổi của biểu hiện trao/nhận từ lớp nghĩa lợi ích sang lớp nghĩa phi lợi ích từ đó đưa ra sự tương đồng và khác biệt về nghĩa của biểu hiện ngữ pháp này.
Trên cơ sở đối chiếu động từ trao/nhận làm vị ngữ trong câu và động từ trao/nhận giữ vai trò động từ bổ trợ trong tiếng Nhật và tiếng Trung, nghiên cứu đã làm rõ sự giống và khác nhau về cấu trúc ngữ pháp, nghĩa biểu hiện và những yếu tố quy định việc sử dụng động từ phù hợp. Ngoài những công trình trên, câu trao/nhận còn được đưa vào các nghiên cứu nhằm hướng đến đối tượng là người học tiếng Nhật. Có thể kể đến như công trình của 尹 (Yoon, 2004) nghiên cứu việc thụ đắc biểu hiện trao/nhận trong tiếng Nhật như là ngôn ngữ thứ hai; nghiên cứu về “Vấn đề thụ đắc ngôn ngữ “biểu hiện trao/nhận” của người Thổ Nhĩ Kỳ học tiếng Nhật thông qua việc phân tích tính tần suất, tính thích hợp, tính sản xuất ở ngôn ngữ xuất” (Derya Akkus, 2011); “Nghiên cứu liên quan đến việc thụ đắc biểu hiện hành vi trao nhận với đối tượng là người Trung Quốc học tiếng Nhật” (孫 [Sun], 2014). Ở Việt Nam, câu chuyển giao có chứa động từ mang ý nghĩa trao/nhận hay còn gọi là câu trao/nhận cũng đã được đề cập tới trong một số công trình của các nhà nghiên cứu, tiêu biểu là Nguyễn Kim Thản (1977), Cao Xuân Hạo (1991), Nguyễn Đức Tồn (1998), Hoàng Văn Vân (2002), Hoàng Trọng Phiến (2008),.
Tuy nhiên, tại các chuyên luận ngữ pháp tiếng Việt, loại câu này cũng chỉ được nhắc tên hoặc được nghiên cứu theo những cách tiếp cận riêng của mỗi tác giả trong tổng thể các kiểu câu chung của tiếng Việt, chứ chưa 5 được đưa ra làm đối tượng nghiên cứu chuyên sâu. Hơn nữa, số lượng các công trình khoa học nghiên cứu về câu trao/nhận của tiếng Nhật một cách bài bản vẫn còn khá ít ỏi. Chỉ có một vài cuốn sách về ngữ pháp tiếng Nhật của các tác giả người Việt như cuốn “Ngữ pháp tiếng Nhật hiện đại” (Trần Sơn, 1993); cuốn “Ngữ pháp tiếng Nhật” (Nguyễn Thị Việt Thanh, 2000) có giới thiệu khái quát về ngữ pháp cơ bản trong tiếng Nhật. Bên cạnh đó, có một số nghiên cứu đã đưa khái niệm câu trao/nhận vào như là một phần nhỏ trong công trình nghiên cứu về “Phạm trù kính ngữ của tiếng Nhật” (Nguyễn Thu Hương, 1997), “Nghiên cứu liên quan đến cách biểu hiện điểm nhìn từ bài viết của sinh viên người Việt học tiếng Nhật và phương pháp giảng dạy phù hợp” (Lê Cẩm Nhung, 2016), công trình nghiên cứu về “Đặc trưng của biểu hiện điểm nhìn trong việc miêu tả sự việc của người Việt học tiếng Nhật, trên cơ sở so sánh với người Nhật bản xứ” (Đặng Thái Quỳnh Chi, 2017).
Công trình nghiên cứu về “Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu có vị ngữ là vị từ mang ý nghĩa trao/tặng (trên cơ sở tiếng Việt và tiếng Anh) của Lâm Quang Đông (2007) là một công trình hướng vào chiều sâu nghĩa của ngôn ngữ, đem lại cái nhìn toàn diện trong việc nhìn nhận và phân tích các lớp nghĩa của câu trao/nhận một cách hệ thống và chi tiết. Gần đây nhất có thể kể đến công trình nghiên cứu về “Câu trao-nhận trong tiếng Nhật (đối chiếu với tiếng Việt)” của Đào Thị Hồng Hạnh (2017). Thông qua việc phân tích cấu trúc của câu trao-nhận trong tiếng Nhật, tác giả đã tập trung nghiên cứu sự mở rộng nghĩa của loại câu này dựa trên lý thuyết ngữ pháp hóa, đồng thời đối chiếu với những biểu hiện ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt. Mặc dù đã có những công trình nghiên cứu trình bày rõ về các đặc trưng của loại câu chuyển giao có chứa động từ mang ý nghĩa trao/nhận trong tiếng Nhật từ góc độ lý thuyết, ngữ nghĩa; tuy nhiên rất ít những công trình phân tích một cách chi tiết mô hình cấu trúc nghĩa biểu hiện và sự hiển thị của các tham thể trong câu.
Bên cạnh đó, trong phạm vi tìm kiếm, luận văn nhận thấy, những công trình nghiên cứu phân tích và đối chiếu đặc điểm ngữ dụng của câu chuyển giao trong tiếng Việt và tiếng Nhật cũng còn khá ít ỏi. Chính vì vậy, trên cơ sở làm rõ các đặc trưng về cấu trúc nghĩa biểu hiện và các yếu tố ngữ dụng của câu chuyển giao có chứa động từ mang ý nghĩa trao/nhận trong tiếng Việt và tiếng Nhật, luận văn sẽ tiến hành đối chiếu nhằm tìm ra sự giống và khác nhau của dạng câu này trong hai ngôn ngữ.2 Một số lý thuyết cơ bản đƣợc sử dụng trong luận văn 1.1 Khái niệm câu Trong bất kì ngôn ngữ nào, câu luôn đóng vai trò rất quan trọng trong việc cấu thành văn bản cũng như trong giao tiếp. Cao Xuân Hạo (2004) đã đề cập đến khái niệm câu trên nhiều phương diện, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu ở đề tài này, luận văn chỉ nhắc lại khái niệm câu trên hai phương diện sau: - Về phương diện cấu trúc, “câu là phạm vi lớn nhất của những mối quan hệ ngữ pháp chính danh. Tất cả quan hệ ngữ pháp có thể có được đều chỉ có trong phạm vi câu.” (Cao Xuân Hạo, 2004, tr.
Có thể hiểu, trong hệ thống trật tự của các đơn vị ngôn từ tạo thành một ngôn bản (văn bản), câu là đơn vị trung tâm và quan trọng nhất. Nếu thiếu sự có mặt của câu thì không thể hiểu được các đơn vị ngôn từ lớn hơn nó là đoạn hoặc văn bản; và cũng không thể hiểu được bất cứ điều gì về những đơn vị nhỏ hơn nó như từ hoặc ngữ. - Về phương diện chức năng, câu là “đơn vị mà ngôn ngữ dùng để biểu hiện một nhận định (state-ment) gồm một chủ đề được kết hợp với một điều nói về chủ đề đó (Sđd).” Và “câu biểu hiện trọn vẹn một mệnh đề (một nhận định)” (Cao Xuân Hạo 2004, tr.28) Cùng nghiên cứu về đề tài câu tiếng Việt, Hoàng Văn Vân (2002) đã sử dụng thuật ngữ “cú” thay cho thuật ngữ “câu đơn” với các diễn giải tổng hợp từ nhiều công trình nghiên cứu dựa theo năm quan điểm: quan điểm logic ngữ nghĩa, quan điểm cấu trúc, quan điểm giao tiếp, quan điểm ngôn điệu/âm vị học và văn tự, quan điểm trực cảm. Trong giới hạn đề tài này, luận văn chỉ đề cập đến diễn giải “cú” trong quan điểm logic ngữ nghĩa và quan điểm cấu trúc.
- Từ quan điểm logic ngữ nghĩa, “cú được xem là đơn vị diễn đạt „một phán đoán‟ (T.1940), „một sự tình‟ (T.Lê 1963), hay „một tư duy tương đối trọn vẹn‟ (Bystrov et.” - Từ quan điểm cấu trúc, cú được phân loại thành “cú độc lập, cú chính và cú phụ thuộc” (T.1940), “cú độc lập và cú phụ thuộc” (Thompson 1985); “cú thành phần, cú một thành phần và cú dưới bậc” (T. Như vậy, mặc dù được gọi bằng các tên khác nhau, nhưng “cú” và “câu” trong nghiên cứu của Cao Xuân Hạo và Hoàng Văn Vân đều là sự biểu hiện trọn vẹn một nhận định và có tính độc lập về mặt ngữ pháp. Chính vì vậy, có thể đưa ra kết luận rằng thuật ngữ “cú” và thuật ngữ “câu” là hoàn toàn đồng 7 nhất về mặt ý nghĩa. Từ đây, luận văn thống nhất sử dụng thuật ngữ “câu” trong toàn bộ các chương.2 Khái niệm câu chuyển giao Trong nghiên cứu về cú tiếng Việt, Hoàng Văn Vân (2002, tr.251) gọi tên khái niệm câu chuyển giao là “quá trình vật chất tác động thuyên chuyển hưởng lợi (material effective dispostive benefactive)”.
Trong nghiên cứu về những điểm cơ bản của ngữ pháp tiếng Nhật, 富田(Tomita, 2007, tr.157) đã gọi tên khái niệm câu chuyển giao có chứa động từ mang ý nghĩa trao/nhận là biểu hiện trao/nhận “juju hyougen”. Cơ sở gọi tên và các thành phần tham gia trong câu sẽ được làm rõ trong các phần tiếp theo.1 Khái niệm câu chuyển giao theo quan điểm ngữ pháp chức năng Mark Halliday (1998) nhận định rằng “cú chứa đựng một nguyên tắc cơ bản để mô hình hóa kinh nghiệm - đó là nguyên tắc thực tế được hình thành nên từ các quá trình.” Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản, cú là sự biểu hiện bằng ngôn từ của các quá trình. Và tất cả mọi đối tượng tham gia vào quá trình được mô tả đều được gọi bằng thuật ngữ “tham thể - participant”. Halliday (1998) đã đề cập đến một quá trình vật chất có sự xuất hiện của các tham thể sau: “Hành thể hay theo thuật ngữ truyền thống gọi là chủ ngữ (có nghĩa là „kẻ gây ra hành động‟); Lợi thể hoặc là Tiếp thể (Recepient) là tham thể có chức năng tiếp nhận hàng hóa, hoặc là Khách thể (Client) là tham thể có chức năng tiếp nhận dịch vụ.
Trong quá trình vật chất đó, “hàng hóa” và “dịch vụ” được thể hiện thông qua Đích thể.” Vd: Hoàng Văn Vân (2001, tr.260) I gave my love a ring that has no end Hành thể Quá trình:vật chất Lợi thể Đích thể Cùng quan điểm với Mark Halliday, Hoàng Văn Vân (2002) đã đưa ra ví dụ để diễn giải cho cách gọi tên của các tham thể xuất hiện trong quá trình theo mô hình cấu trúc nghĩa biểu hiện như sau. Vd: Hoàng Văn Vân (2002, tr.