CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về từ chỉ vị giác trong tiếng Hán 1. Nghiên cứu về ngữ nghĩa So với Việt Nam, các công trình nghiên cứu về từ chỉ vị giác trong tiếng Hán khá phong phú.
Các nghiên cứu so sánh đối chiếu từ vị giác trong tiếng Hán với ngôn ngữ khác rất đa dạng, đặc biệt là những nghiên cứu về mặt ý nghĩa. Đầu tiên, phải kể đến các nghiên cứu so sánh với tiếng Anh, tiếp sau là tiếng Nhật, Hàn,. 张韶岩(Trương Thiều Nham) (1999),“日汉语基本味觉词引申义之比 较”(đối chiếu nghĩa mở rộng từ vị giác cơ bản trong tiếng Hán và tiếng Nhật), kết quả phân tích cho thấy nghĩa mở rộng của từ vị giác cơ bản trong tiếng Hán phong phú hơn tiếng Nhật, khả năng kết hợp và tần suất sử dụng cũng nhiều hơn trong tiếng Nhật. Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra một số nghĩa rộng giống nhau giữa hai ngôn ngữ như: 酸(chua), 甜(ngọt),苦(đắng), 辣(cay) đều mang nghĩa tiêu cực.
Tuy nhiên, từ 甜(ngọt) trong tiếng Hán mang nghĩa rộng tích cực nhiều hơn điều này trái ngược với từ “ngọt” trong tiếng Nhật. Chứng tỏ rằng những điểm tương đồng và khác biệt giữa các từ vị giác cơ bản trong hai ngôn ngữ có liên quan mật thiết đến sự khác biệt giữa văn hóa ẩm thực Trung Quốc và Nhật Bản. 王冬梅(Vương Đông Mai) (2003),“汉语饮食词语的隐喻转义及其文 化阐释”(giải thích văn hóa và nghĩa ẩn dụ của từ ăn uống trong tiếng Hán), tập trung nghiên cứu các từ chỉ mùi vị trong tiếng Hán được mở rộng nghĩa thông qua phương pháp liên tưởng hoặc ví von, từ đó tạo thành các từ ngữ biểu thị cảm nhận của con người. Tác giả đã phân tích tỉ mĩ ý nghĩa mở rộng của nhóm từ ngữ này và thảo luận về nguyên nhân nảy sinh nghĩa mở rộng của các từ chỉ mùi vị cụ thể, như 香(thơm) dùng để biểu thị sự ưa thích, coi trọng, bởi mùi thơm kích thích lên khứu giác cho người ta cảm nhận hợp khẩu vị và dễ chịu.
Bên cạnh đó, cũng có một nhóm các học giả Trung Quốc đã tiến hành phân tích chi tiết và chuyên sâu về các đặc điểm của từ ngữ vị giác dựa trên ngữ nghĩa và văn hóa. Tiêu biểu có 张靖华(Trương Tịnh Hoa) (2005),“汉语味觉词的 文化审视”(văn hóa của từ vị giác trong tiếng Hán), tác giả từ góc độ văn hóa khai thác ra hàm ý văn hóa của nhóm từ vị giác. Còn 张军(Trương Quân) (2008), “汉语饮食味觉词语及其文化义探析”(phân tích văn hóa và từ vị giác ăn 5 uống trong tiếng Hán), từ góc độ ngôn ngữ học tiến hành nghiên cứu và thảo luận từ ngữ biểu thị vị giác và cảm nhận vị giác dựa trên ý nghĩa văn hóa. 王银平(Vương Ngân Bình) (2008), “英汉味觉范畴隐喻对比研究” (nghiên cứu đối chiếu phạm trù ẩn dụ từ vị giác trong tiếng Hán và tiếng Anh), tác giả tiến hành phân tích đối chiếu hành vi vị giác và công năng của nó, cơ quan vị giác và hiệu ứng vị giác trong hệ thống ngữ liệu Hán-Anh.
Nghiên cứu phát hiện, hành vi vị giác “尝[chang2]” và “taste” chủ yếu ánh xạ lên thế giới vật chất và nhận thức, công năng vị giác “味[wei4]” và “taste” chủ yếu ánh xạ lên tình cảm và nhận thức, cơ quan vị giác “舌[she2]” và “tongue” chủ yếu ánh xạ lên ngôn ngữ và hiệu ứng vị giác “酸[suan1]” và “sour”, “甜[tian2]” và “sweet”, “苦[ku3]” và “bitter”, “辣[la4]” và “peppery” chủ yếu ánh xạ lên tình cảm và con người. Kết quả phân tích ngữ liệu, tác giả thấy rằng nhóm từ biểu thị vị giác trong hai ngôn ngữ nhìn chung đều có sự tương đồng và khác biệt, tuy nhiên sự khác biệt thì nhiều hơn. Những điểm khác biệt này dựa trên cấu trúc sinh lý và tâm lý chung của con người, từ góc độ tư duy nhận thức và khác biệt về văn hóa. 梁 惠 正 (Lương Huệ Chính) (2011), “中 韩味 觉 形容 词 比较 研究 ” (nghiên cứu đối chiếu tính từ vị giác trong tiếng Hán và tiếng Hàn), tác giả tập trung nghiên cứu điểm giống và khác nhau về loại hình kết cấu và ý nghĩa của nhóm từ ngữ vị giác trong hai ngôn ngữ.
Thông qua việc phân tích, tác giả thấy được từ vị giác phái sinh trong tiếng Hàn có hiện tượng biến đổi âm vị để diễn đạt sự thay đổi mức độ của vị giác nhưng trong tiếng Hán thì không có hiện tượng này. Loại hình kết cấu từ vị giác phái sinh trong tiếng Hàn khá phức tạp còn trong tiếng Hán thì khá đơn độc. Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra một số ẩn dụ giống nhau giữa hai ngôn ngữ như: tốt đẹp là ngọt, cảm giác thoải mái là ngọt, và sự khác biệt trong ý niệm hóa các vị. Chẳng hạn như: vị “辣(cay)” trong tiếng Hán được phóng chiếu qua các ẩn dụ ý niệm như: sự nóng nảy- tâm địa độc ác, ăn mặc mát mẻ- khiêu gợi.
Trong khi đó, vị “cay” trong tiếng Hàn được thể hiện qua các ẩn dụ ý niệm: “cay” là thời tiết rất lạnh, thẳng tính- thạo việc. Hiện tượng này xảy ra là do phong tục tập quán khác nhau, bối cảnh văn hóa đặc trưng của dân tộc, cũng như thói quen sử dụng ngôn ngữ. Nghiên cứu đối chiếu từ vị giác trong tiếng Hán và tiếng Anh gần đây như 张相恒(Trương Tương Hằng) (2013),“英汉味觉隐喻对比分析”(phân tích đối chiếu ẩn dụ vị giác trong tiếng Hán và tiếng Anh), tác giả chỉ ra một số ẩn dụ giống nhau giữa hai ngôn ngữ như: hài lòng là ngọt, không hài lòng là đắng, ghen tị là chua. Bên cạnh đó tác giả cũng chỉ ra những khác biệt trong ý niệm hóa các vị giác.
Chẳng hạn vị “chua” trong tiếng Hán được phóng chiếu qua các ẩn dụ ý niệm như: chua là buồn và đau khổ, chua là làm ra vẻ thông thái. Trong 6 khi đó, vị “chua” trong tiếng Anh được thể hiện qua các ẩn dụ ý niệm: chua là u sầu và buồn chán, chua là những thứ khó chịu và những âm thanh không êm ái, chua là mối quan hệ và tình thế đang tồi tệ. 范孟雄(Phạm Mạnh Hùng) (2017),“汉越基本味觉词隐喻对比研究” (nghiên cứu so sánh ẩn dụ từ vị giác cơ bản trong tiếng Hán và tiếng Việt), tác giả tập trung nghiên cứu nghĩa ẩn dụ của nhóm từ chỉ vị giác cơ bản trong hai ngôn ngữ Hán- Việt và phân tích nguyên nhân dẫn đến sự tương đồng và khác biệt trong văn hóa và tư duy của hai dân tộc. Nghiên cứu về hình thái 刘一双(Lưu Nhất Song) (2011),“中韩味觉词对比研究”(nghiên cứu đối chiếu từ chỉ vị giác trong tiếng Hán và tiếng Hàn), tác giả nghiên cứu đối chiếu từ biểu thị vị giác trong hai ngôn ngữ qua 3 đặc trưng: hình thái, công năng, cú pháp.
Dựa vào đặc tính hình thái, công năng ngữ pháp, đặc tính cú pháp tìm ra quy luật về kết cấu, về nghĩa. Đồng thời, thông qua phân tích hiện tượng chuyển nghĩa của nhóm từ vị giác, tác giả chỉ ra một số ẩn dụ giống nhau giữa hai ngôn ngữ như: vui vẻ là 甜[tian2] (ngọt), tàn nhẫn là 辣[la4] (cay). Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra một số điểm khác biệt trong ý niệm ẩn dụ. Chẳng hạn: từ “mặn” trong tiếng Hàn có rất nhiều ý niệm ẩn dụ và đa phần là biểu thị ý nghĩa khẳng định.
Ngược lại từ “咸[xian2] (mặn)” trong tiếng Hán thì hầu như không có. 金善熙(Kim Thiện Hi) (2012),“ 汉韩基本味觉词对比研究 ”(nghiên cứu đối chiếu từ chỉ vị giác cơ bản trong tiếng Hán và tiếng Hàn), tác giả tập trung nghiên cứu đối chiếu hình thức cấu tạo và ý nghĩa của các từ chỉ vị giác cơ bản trong hai ngôn ngữ. Dựa vào kết quả điều tra, tìm ra những điểm khó khăn mà sinh Hàn Quốc gặp phải khi học về từ biểu thị vị giác. Sau đó, đưa ra phương án giảng dạy để đạt được hiệu quả cao.
Những đề tài nghiên cứu mở rộng ở nhiều góc độ, nhiều mặt, nhiều tầng lớp đã đạt được những thành quả đáng kể. Chẳng hạn các công trình nghiên cứu nêu ra được một số hướng chuyển nghĩa chính như chuyển từ nghĩa vị giác sang nghĩa giác quan khác: thị giác, thính giác, chuyển từ nghĩa vị giác sang nghĩa sự vật, tinh thần,.Song các công trình nghiên cứu liên quan đến nhóm từ này vẫn chưa phân tích được đầy đủ cấu trúc nghĩa của từ, cũng như các nghiên cứu liên quan đến từ vị giác trong tiếng Hán như là một ngoại ngữ, có sự liên hệ với ngôn ngữ mẹ đẻ của người học thì vẫn còn khá ít. Thêm nữa việc đối chiếu từ chỉ vị giác trong tiếng Hán và tiếng Việt tồn tại không ít những điểm tương đồng và khác biệt. Vì vậy, từ những lý do trên, nghiên cứu tiến hành thực hiện đề tài này với mong muốn sẽ tìm ra những vấn đề sâu sắc, mới mẻ hơn về nhóm từ chỉ vị giác trong tiếng Hán có sự so sánh đối chiếu với tiếng Việt.
Tình hình nghiên cứu về từ chỉ vị giác trong tiếng Việt 1. Nghiên cứu về nghĩa Vị giác đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống con người. Nó được phản ánh một cách sâu sắc trong ngôn ngữ. Vì thế các từ chỉ vị giác đã trở thành đối tượng nghiên cứu của không ít các nhà ngôn ngữ.
Từ trước đến nay, các nghiên cứu về từ chỉ vị giác trong tiếng Việt rất ít. Chủ yếu là các nghiên cứu so sánh đối chiếu từ biểu thị vị giác trong tiếng Hán với tiếng Việt. Các công trình chủ yếu nghiên cứu nghĩa chuyển của từ vị giác. Trong đó, tiêu biểu có tác giả Lương Phạm Hạnh Hiền (2013), “Nghiên cứu đối chiếu ngữ nghĩa giữa từ chỉ vị giác “酸、甜、苦、辣” trong tiếng Hán và từ chỉ vị giác tương ứng trong tiếng Việt”, cách làm của tác giả này là thống kê các từ ngữ có liên quan đến vị giác, phân tích nghĩa gốc, nghĩa mở rộng và ý nghĩa sắc thái tình cảm trong hai ngôn ngữ.
Kết quả phân tích cho thấy, xuất hiện những điểm tương đồng và khác biệt trong hiện tượng chuyển nghĩa giữa hai ngôn ngữ là do chịu sự hạn chế rất lớn về phương diện tư duy, văn hóa của mỗi dân tộc. Tác giả Ngô Minh Nguyệt (2014), “Đặc điểm trường nghĩa ẩm thực (trên tư liệu tiếng Hán và tiếng Việt)”, thì nghiên cứu nhóm từ chỉ mùi vị trong trường ngữ nghĩa ẩm thực. Tác giả cũng chỉ ra một số từ chỉ mùi, vị thể hiện trạng thái, tâm lí con người như: “ngọt, thơm” biểu trưng cho những cái tốt đẹp, vui vẻ, “mặn” biểu trưng cho những cảm nhận tích cực, “chua”, “cay”, “đắng” dùng để liên tưởng đến cảm nhận tiêu cực của con người. Tuy nhiên, công trình chủ yếu tập trung vào mảng văn hóa ẩm thực của Trung Quốc và Việt Nam.
Trong đó nổi bật là đặc trưng về khẩu vị và triết lí âm dương ngũ hành trong việc sử dụng nguyên liệu ẩm thực, cách chế biến.