CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Giới thiệu các khái niệm đoản ngữ Trong tiếng Việt, tổ hợp này có nhiều tên gọi khác nhau: từ tổ, cụm từ, ngữ, đoản ngữ, ngữ đoạn. Nguyễn Kim Thản (1964) gọi là từ tổ. Diệp Quang Ban (2013) cho rằng cái mở rộng một từ thành một tổ hợp theo quan hệ chính phụ gọi là cụm từ.
Trương Văn Chình-Nguyễn Hiến Lê (1963) dùng từ “ngữ” để chỉ cái mà nhiều người khác gọi là từ ghép chính phụ, hơn một tiếng lẻ là một “ngữ” như “thợ mộc, máy bay”. Nguyễn Tài Cẩn (1975) gọi đoản ngữ và được hiểu tương đương với cụm từ, nhưng khác với tiếng Anh không tính sự có mặt của giới từ đứng đầu. Cao Xuân Hạo (2005), gọi những bộ phận của câu có chức năng cú pháp nhất định, biểu hiện những vai nghĩa nhất định gọi đó là ngữ đoạn. Quan điểm của ngữ pháp truyền thống Theo ngữ pháp truyền thống, từ kết hợp với từ tạo thành một tổ hợp tự do.
Tổ hợp tự do kết hợp theo quan hệ chính phụ là đoản ngữ. Trong “Ngữ pháp tiếng Việt”, Nguyễn Tài Cẩn (2004) viết “Kết hợp tiếng với tiếng chúng ta sẽ được những loại đơn vị ngữ pháp cao hơn, gọi chung là tổ hợp. Tổ hợp gồm hai loại chính là tổ hợp tự do và tổ hợp cố định. Tổ hợp tự do được cấu tạo bằng một trong 3 quan hệ cú pháp là quan hệ đẳng lập, quan hệ chủ vị và quan hệ chính phụ.
Nguyễn Tài Cẩn (2004) cho rằng "Đoản ngữ là một loại tổ hợp tự do, kết hợp theo quan hệ chính phụ, gồm một thành tố trung tâm đứng làm nòng cốt và một hay một số thành tố phụ quay quần xung quanh trung tâm đó để bổ sung thêm một số chi tiết thứ yếu về mặt nghĩa" (tr. Các nhà Việt ngữ tiêu biểu theo quan điểm này là Trần Trọng Kim (1960), Nguyễn Tài Cẩn (1975, 2004), Diệp Quang Ban (2008), Lê Văn Lý (1983), Nguyễn Kim Thản (2008), Hoàng Trọng Phiến (2008), v. Quan điểm của ngữ pháp chức năng Kế thừa quan điểm đoản ngữ của Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo nghiên cứu theo ngữ pháp chức năng, gọi tổ hợp đó là ngữ đoạn. Ông định nghĩa “Ngữ đoạn là những bộ phận của câu có chức năng cú pháp nhất định biểu hiện những vai nghĩa nhất 13 định” (Cao Xuân Hạo, 2005, tr.
Theo quan điểm ngữ pháp chức năng thì câu gồm 2 thành phần: Đề và Thuyết, tương ứng với hai thành phần của mệnh đề. Đề và Thuyết là những ngữ đoạn có cấp bậc cao nhất trong các bộ phận dưới câu. Cao Xuân Hạo (2004) cho rằng có thể phân tích “tuần tự từ các đơn vị có nghĩa lớn nhất cho đến những đơn vị có nghĩa nhỏ nhất – hình vị, và sau đó, đến những đơn vị không có nghĩa – âm vị, nết khu biệt" (tr. Trong công trình "Ngữ pháp tiếng Việt–ngữ đoạn và từ loại", Nguyễn Vân Phổ (2018) phân tích cấu trúc ngữ đoạn của câu theo biểu đồ như sau : (tr.3) Trời nóng đi tắm biển mới tuyệt Câu Trời nóng đi tắm biển mới tuyệt Bậc 1 Trời nóng đi tắm biển mới tuyệt Bậc 2 đi tắm biển mới tuyệt Bậc 3 tắm biển tuyệt Bậc 4 biển Bậc 5 Như vậy, khái niệm đoản ngữ trong ngữ pháp truyền thống với ngữ đoạn trong ngữ pháp chức năng có chỗ khác nhau.
Theo ngữ pháp truyền thống, chỉ tổ hợp tự do cấu tạo theo quan hệ chính phụ mới gọi là đoản ngữ. Còn ngữ pháp chức năng thì cho rằng, tổ hợp dù cấu tạo theo quan hệ ngữ pháp nào, quan hệ chính phụ, quan hệ đẳng lập, hay quan hệ chủ vị - quan hệ chủ vị còn gọi là quan hệ đề-thuyết nên có thể nói quan hệ này thường có 2 ngữ đoạn, ngữ đoạn làm chủ ngữ và ngữ đoạn làm vị ngữ - đều được gọi là ngữ đoạn. Danh ngữ tiếng Việt 1. Danh ngữ theo ngữ pháp truyền thống Theo ngữ pháp truyền thống, cấu trúc danh ngữ tiếng Việt có thể chia làm hai loại, sự khác biệt nằm ở trung tâm.
Cấu trúc danh ngữ hai loại bao gồm: thứ nhất, Phần phụ trước - Phần trung tâm - Phần phụ sau. Phần trung tâm có một danh từ là danh từ thường. Phần phụ trước là những từ chỉ số lượng, loại từ (thường được xem là hư từ). Phần phụ sau là các định ngữ bổ sung nghĩa cho trung tâm.
Tổ hợp “loại từ + danh từ” theo ngữ pháp truyền 14 thống là tổ hợp “hư từ + thực từ” nên loại từ không thể là trung tâm của danh ngữ. Trong lịch sử nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt thời kỳ đầu, nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu theo hướng cấu trúc này. Phần phụ trước TT Phần phụ sau Tất cả ba cái con mèo đen ấy Cấu trúc danh ngữ thứ hai cũng không khác với cấu trúc thứ nhất, Phần đầu - Phần trung tâm - Phần cuối, tuy nhiên trung tâm không chỉ một, mà có đến hai vị trí đều là trung tâm. Theo Nguyễn Tài Cẩn (2004), TT1 là trung tâm về mặt ngữ pháp và TT2 là trung tâm về mặt ý nghĩa từ vựng (tr.
Phần đầu TT1 TT2 Phần cuối Một anh sinh viên khoa Văn Hai quan điểm trên về trung tâm đều hiểu theo ngôn ngữ học truyền thống, trung tâm danh ngữ là danh từ. Trong danh ngữ, có mô hình trước trung tâm không có từ chỉ số lượng hoặc quán từ thì trung tâm danh từ thường là tất nhiên, không ai phủ nhận được. Ví dụ : (4) Gia đình anh ấy có mấy người? (VSL1, p.158) Câu trên, trong danh ngữ "gia đình anh ấy" có trung tâm là "gia đình" phần đầu nó không có từ chỉ số lượng nên dễ phân biệt trung tâm là danh từ thường. Nhưng nếu có từ chỉ số lượng hoặc quán từ thì trung tâm của hai quan điểm trên khác nhau.
Ví dụ : (5) Tôi muốn mua một cái ti vi.8) Theo cấu trúc thứ nhất, danh ngữ "một cái ti vi" có trung tâm là "ti vi" nhưng ở cấu trúc thứ hai, theo quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn, trung tâm là "cái ti vi", danh từ đơn vị "cái" là trung tâm về mặt ngữ pháp và danh từ thường "ti vi" là trung tâm về mặt ý nghĩa từ vựng. Danh ngữ theo quan điểm mới Theo Cao Xuân Hạo (2005), “bất kì một ngữ danh từ nào có thể phân chia thành 15 hai hoặc nhiều ngữ ở bậc thấp hơn thì ngữ danh từ đứng đầu ngữ danh từ ấy là trung tâm (trừ phân lượng ngữ trước trung tâm)” (tr. Cấu trúc danh ngữ có hai loại danh từ là danh từ đơn vị và danh từ khối. Những công trình của Cao Xuân Hạo xác định thuộc tính thành tố trung tâm của danh ngữ với tiêu chí có khả năng đếm được hay không đếm được.
Trong cấu trúc danh ngữ đầy đủ thành tố của tiếng Việt, có thể lược bỏ danh từ khối nhưng danh từ đơn vị (đứng trước danh từ khối) thì bắt buộc phải giữ lại. Cao Xuân Hạo cho rằng phần trung tâm của danh ngữ phải là danh từ đơn vị chứ không phải là danh từ khối. Có thể hình dung theo sơ đồ sau : Phần phụ trước TT Phần phụ sau Vị trí 3 2 1 0 1’ 2’ 3’ Tất cả ba cái con mèo đen ấy Trong danh ngữ theo quan điểm mới, chức năng tiêu biểu của danh từ đơn vị là làm trung tâm cho danh ngữ có sở chỉ (referent) trong phát ngôn. Như vậy, trung tâm danh ngữ là danh từ đơn vị.
Ví dụ : (6) Anh ấy có hai người bạn nước ngoài.85) Trong danh ngữ trên "hai người bạn nước ngoài" có trung tâm là "người" và các từ khác "hai, bạn, nước ngoài" đều là các định ngữ cho trung tâm "người", khác hoàn toàn với quan điểm ngữ pháp truyền thống về trung tâm. Lý do chọn quan điểm thứ hai của Nguyễn Tài Cẩn Trong quá trình học tập tiếng Việt, học viên Hàn Quốc thường lấy đầu tiên từ danh từ thường để làm mốc chứ không phải danh từ đơn vị (loại từ), vì trung tâm danh ngữ tiếng Hàn là danh từ thường. Trong ngữ pháp học, việc phân định từ loại là quan trọng. Trong tiếng Việt, chúng tôi thấy khả năng kết hợp của danh từ đơn vị với các thành tố khác trong danh ngữ rộng hơn so với tiếng Hàn.
Chẳng hạn như danh từ đơn vị tiếng Việt có thể kết hợp trực tiếp với từ trực chỉ nhưng tiếng Hàn thì không. Nếu giảng dạy danh từ đơn vị tiếng Việt theo truyền thống, trong đó danh từ đơn vị chỉ có tư cách là định ngữ của trung tâm danh 16 ngữ thì học viên Hàn Quốc gặp phải nhiều khó khăn khi cấu tạo danh ngữ tiếng Việt. Ví dụ: (7) Chiếc này là chiếc thứ hai.63) 대 / 이 / 이다 / 대 / 두번째 *이 대는 두번째 대이다. → 이 차는 두번째 차이다.
Ở câu trên, danh ngữ tiếng Việt "chiếc này" có dạng "danh từ đơn vị + từ trực chỉ" là chấp nhận được, nhưng danh ngữ tiếng Hàn lại không chấp nhận mô hình "chiếc này" vì danh từ đơn vị chỉ kết hợp với lượng từ, còn với những định ngữ khác thì không. Trung tâm của từ trực chỉ "này" phải là danh từ thường như "차/cha/-xe" thì mới được chấp nhận. Đây là lý do mà tác giả luận văn quyết định chọn quan điểm thứ hai của Nguyễn Tài Cẩn về cấu trúc danh ngữ để triển khai mô tả cũng như đối chiếu danh ngữ của hai ngôn ngữ, tiếng Việt và tiếng Hàn. Danh ngữ tiếng Hàn Tiếng Hàn là một ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính có đặc điểm từ biến đổi hình thái.
Trong danh ngữ tiếng Hàn, trật tự của các thành tố thường đứng trước là các định ngữ (Trong ngữ pháp tiếng Hàn, các thành tố trước danh từ tên gọi là “관형어/Kwan-hyeong-ơ/”. Thuật ngữ này có nghĩa là các thành tố tương đương với định ngữ tiếng Việt. Chẳng hạn, Theo công trình của 남기심&고영근 (Nam Ki Shim & Ko Yong Kun, 2001), “Định ngữ (관형어/Kwan-hyeong-ơ/) đứng trước các thanh phần câu như chủ ngữ, tân ngữ những danh từ làm trung tâm bổ nghĩa cho danh từ đó, v.265) để bổ sung ý nghĩa cho trung tâm ở đứng sau. Các cấu trúc danh ngữ Cấu trúc danh ngữ tiếng Hàn thường được chia làm bốn loại.
Điều này liên quan đến sự thay đổi vị trí của [lượng từ + danh từ đơn vị] với trung tâm chứ không ảnh hưởng tới các định ngữ khác. Về các định ngữ khác như định ngữ hạn định, định ngữ miêu tả bao gồm phân lượng ngữ và một số lượng từ hay vị từ trong danh ngữ tiếng 17 Hàn, có thể có vị trí nhất định theo cấu trúc danh ngữ thường đứng trước trung tâm do đặc điểm của loại hình tiếng Hàn.