Chương 1: Lý luận chung về trách nhiệm BTTHNHĐ theo quy định của pháp luật Trung Quốc và pháp luật Việt Nam. - Chương 2: Những quy định chung về BTTHNHĐ theo pháp luật Trung Quốc và pháp luật Việt Nam. - Chương 3: Ưu điểm của Luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật Trung Quốc. Hạn chế và phương hướng hoàn thiện chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật Việt Nam.
Với thời gian nghiên cứu không dài, bản thân tác giả còn nhiều hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa học, do đó luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Kính mong các thầy, cô giáo và các bạn góp ý để luận văn được hoàn chỉnh hơn. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BTTHNHĐ THEO PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng Trách nhiệm dân sự có nguồn gốc phát sinh từ ý chí thỏa thuận giữa các bên (hợp đồng) hoặc nằm ngoài ý chí của các bên (ngoài hợp đồng).
Trách nhiệm ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự khi người nào đó có hành vi vi phạm nghĩa vụ ngoài hợp đồng và được pháp luật quy định. Trách nhiệm BTTHNHĐ là một trong những loại trách nhiệm ngoài hợp đồng. Trách nhiệm BTTHNHĐ được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự mà khi người nào có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định ngoài hợp đồng xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Nếu trách nhiệm BTTH theo hợp đồng bao giờ cũng được phát sinh trên cơ sở một hợp đồng có trước thì trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định đối với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định chủ yếu về trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng đối với hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của các cá nhân và tổ chức khác [12]. Điều 2 Luật trách nhiệm xâm phạm quyền Trung Quốc quy định về trách nhiệm BTTHNHĐ như sau: “Xâm phạm quyền lợi dân sự phải chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của luật này. Quyền lợi dân sự được nêu trong luật này, bao gồm các quyền nhân thân và tài sản như quyền tính mạng, quyền sức khỏe, quyền danh tính, quyền danh dự, quyền vinh dự, quyền hình ảnh, quyền riêng tư, quyền tự chủ hôn nhân, quyền giám hộ, quyền sở hữu, quyền dụng ích, quyền đảm bảo, quyền tác giả, quyền phát minh sáng chế, quyền sử dụng thương hiệu, quyền phát hiện, quyền cổ phần, quyền thừa kế. Luật sư Bùi Văn Thấm có nêu khái niệm trách nhiệm BTTHNHĐ như sau: “Trách nhiệm BTTHNHĐ là trách nhiệm hình thành từ việc thực hiện một hành vi (cố ý hoặc vô ý), gây thiệt hại cho một người và hành vi đó không liên quan đến bất kỳ một hợp đồng nào có thể xảy ra giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại”.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trách nhiệm BTTHNHĐ ngoài những đặc điểm chung của trách nhiệm dân sự, còn có một số đặc điểm riêng như sau: - Về cơ sở phát sinh trách nhiệm: Trách nhiệm BTTHNHĐ là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh nằm ngoài ý chí của bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại. Trách nhiệm BTTHNHD phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định. - Về điều kiện phát sinh: Trách nhiệm BTTHNHĐ phát sinh khi có đủ các điều kiện do pháp luật quy định. Liên quan đến yếu tố lỗi có là một trong những điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTHNHĐ hay không? Hiện nay có hai quan điểm trái chiều.Quan điểm thứ nhất cho rằng lỗi không phải là yếu tố bắt buộc.
Căn cứ pháp lý cho quan điểm này là Điều 584, BLDS 2015. Theo học thuyết rủi ro, điều kiện về lỗi bị phủ nhận. Học thuyết này cho rằng, khi một người vì hoạt động của mình tạo ra một rủi ro gây tai nạn cho một người khác, thì nạn nhân có thể đòi bồi thường mà không phải chứng minh lỗi của bị đơn [8]. Trong BLDS tồn tại nhiều quy định mà người gây thiệt hại phải bồi thường cho dù không có lỗi.
Đó là một quy định về bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra. Có lẽ xuất phát từ lý do này mà BLDS năm 2015 đã mạnh dạn bỏ đi yếu tố lỗi làm căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTHNHĐ. Quan điểm thứ hai cho rằng yếu tố lỗi là yếu tố bắt buộc cấu thành trách nhiệm BTTHNHĐ. Mặc dù khoản 1, Điều 584 BLDS 2015 không ghi nhận yếu tố lỗi là yếu tố bắt buộc cấu thành trách nhiệm BTTHNHĐ nhưng theo quy định chung ở phần nghĩa vụ dân sự khi xác định nghĩa vụ vẫn xem xét yếu tố lỗi.
Hơn nữa, trong các điều luật cụ thể về các trường hợp BTTHNHĐ vẫn xét đến yếu tố lỗi. Người viết tán thành quan điểm thứ nhất, bởi chính hành vi xâm phạm quyền đã gây ra thiệt hại thì người thực hiện hành vi phải bồi thường để bù đắp cho người bị thiệt hại. Lỗi chỉ được xem xét để xác định mức độ BTTH của người gây thiệt hại.Ví dụ người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình (khoản 2, Điều 585 BLDS 2015).Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau (Điều 587 BLDS 2015).
- Về chủ thể chịu trách nhiệm: Trách nhiệm BTTH theo hợp đồng do các bên tham gia hợp đồng gánh chịu. Trách nhiệm BTTHNHĐ ngoài việc áp dụng đối với chủ thể thực hiện hành vi gây thiệt hại, còn áp dụng đối với chủ thể khác. Tức người thực hiện trách nhiệm có thể không phải là người gây thiệt hại mà là người thứ ba như cha mẹ của người chưa thành niên, người giám hộ đối với người được giám hộ, trường học đối với học viên, bệnh viện đối với bệnh nhân… - Về mức độ bồi thường: Mức độ BTTH theo hợp đồng được xác định theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng. Nếu các bên không thỏa thuận thì mức độ bồi thường được xác định căn cứ vào thiệt hại thực tế trên cơ sở quy định của pháp luật.
Còn đối với BTTHNHĐ thì về nguyên tắc các bên có quyền thỏa thuận về mức độ bồi thường, nếu không thỏa thuận được thì người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Điểm khác nhau giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại theongoài hợp đồng Trách nhiệm BTTHNHĐ và trách nhiệm BTTH theo hợp đồng là hai hình thức của trách nhiệm dân sự. Vì vậy, cả hai loại trách nhiệm này đều có những đặc điểm chung của trách nhiệm dân sự. Ngoài ra, trách nhiệm BTTHNHĐ và BTTH theo hợp đồng có những điểm khác biệt quan trọng như sau: Thứ nhất, trách nhiệm BTTH theo hợp đồng phát sinh trên cơ sở quan hệ hợp đồng.
Hình thức có thể được giao kết bằng lời nói, tài liệu, văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Trách nhiệm BTTHNHĐ phát sinh không dựa trên bất kỳ hợp đồng nào. Trách nhiệm BTTHNHĐ phát sinh khi người nào có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi bàn đến trách nhiệm BTTH thì trước tiên phải xem giữa các đương sự có quan hệ hợp đồng hay không.
Nếu có quan hệ hợp đồng thì luật điều chỉnh là luật về hợp đồng, nếu không thì luật điều chỉnh là luật về BTTHNHĐ. Đây là hai chế định khác nhau, có cách thức điều chỉnh khác nhau. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ hai, trách nhiệm BTTHNHĐ và theo hợp đồng đều có xuất phát điểm từ việc vi phạm nghĩa vụ, nhưng nguồn gốc nghĩa vụ của hai loại trách nhiệm này không giống nhau. Trách nhiệm BTTH theo đồng phát sinh khi có sự vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng, còn trách nhiệm BTTHNHĐ phát sinh khi có sự vi phạm nghĩa vụ luật định.
Loại nghĩa vụ thông thường mà pháp luật đặt ra là nghĩa vụ về tài sản và nhân thân. Ngược lại, nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ hợp đồng thường được các bên thỏa thuận ghi nhận trong hợp đồng hoặc được pháp luật về hợp đồng quy định. Thứ ba, mức bồi thường thiệt hại theo hợp đồng và ngoài hợp đồng không giống nhau. Khi thiết lập hợp đồng, các bên sẽ đề ra quyền lợi và nghĩa vụ mà các bên phải thực hiện, đồng thời dự liệu trước về những trường hợp phải BTTH, mức bồi thường, phương thức bồi thường và các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bồi thường.
Nếu không có thỏa thuận thì việc xác định trách nhiệm bồi thường sẽ được áp dụng theo quy định của pháp luật. Đôi khi việc áp dụng theo quy định của pháp luật cũng làm cho việc tính toán toán mức bồi thường trở lên đỡ phức tạp. Đối với trách nhiệm BTTHNHĐ, trước tiên các bên có quyền thỏa thuận về mức bồi thường. Nếu các bên không thỏa thuận được thì mức bồi thường được xác định dựa vào quy định của pháp luật về BTTHNHĐ.
Luật dân sự luôn tôn trọng nguyên tắc tự do thỏa thuận. Dù là BTTH theo hợp đồng hay ngoài hợp đồng thì sau cùng các bên đều có quyền thỏa thuận về mức bồi thường. Vấn đề chỉ khác nhau ở chỗ nếu không thỏa thuận được với nhau thì mức độ BTTHNHĐ được xác định theo luật về BTTHNHĐ, còn mức độ BTTH theo hợp đồng trước tiên được xác định theo hợp đồng – luật giữa các bên, sau đó mới xác định dựa theo luật định. Thứ tư, lý do miễn trách nhiệm trách nhiệm không giống nhau.
Luật hợp đồng luôn quán triệt nguyên tắc tự nguyện. Khế ước cần được tuân thủ nghiêm ngặt. Trong quan hệ hợp đồng, chỉ cần các bên có sự thống nhất ý chí đều chịu sự ràng buộc của ý chí chung đó. Do đó, trong trách nhiệm hợp đồng lý do miễn trách nhiệm dân sự rất hạn chế, thông thường chỉ giới hạn ở sự kiện bất khả kháng.