CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN LỚP 8. Cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển năng lực học sinh trong dạy học môn Khoa học tự nhiên lớp 8. Dạy học phát triển năng lực “Năng lực” là một khái niệm khá trừu tượng, đa chiều, đa nghĩa và được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau.
Năng lực được xem xét dưới nhiều góc độ: năng lực chung, năng lực chuyên môn, năng lực đặc thù,. Theo Nguyễn Công Khanh và Đào Thị Oanh (2019): Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống. Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018: “Năng lực là thuộc tính cá nhân, được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” (Bộ GD-ĐT, 2018b).
Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động sẵn có nào đó với chất lượng cao – trích “từ điển Tiếng Việt”, hay năng lực có thể định nghĩa như một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực, những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như từ những kinh nghiệm của học 4 sinh, những kỹ năng, thái độ và sự hứng thú, ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác – trích “Dạy học phát triển năng lực THCS”. Như vậy, chúng ta có thể hiểu năng lực nghĩa là không chỉ biết, hiểu mà còn phải vận dụng được, nghĩa là khả năng thực hiện. Nói cách khách, học sinh có thể vận dụng những kiến thức, kỹ năng mà học sinh biết, hiểu từ bài học để vận dụng giải quyết các vấn đề trong tự nhiên, trong cuộc sống cũng như trong các bài học khác. Phân loại năng lực: gồm hai loại: Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội.
năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học. Ngay năng lực chung cũng lại được chia làm ba phạm trù rộng: năng lực sử dụng các công cụ tương tác hiệu quả với môi trường, năng lực hoạt động tương tác trong các nhóm phức hợp, năng lực hoạt động một cách tự chủ. Năng lực riêng là năng lực cụ thể, chuyên biệt, được hình thành và phát triển do một lĩnh vực/môn học nào đó. Theo hướng này, Deborah Nusche đã chia năng lực đầu ra thành: Năng lực nhận thức và năng lực phi nhận thức.
Trong đó: năng lực nhận thức là những thay đổi về niềm tin hoặc sự phát triển các giá trị. Năng lực phi nhận thức có thể được phát triển thông qua việc học tập ở trên lớp cũng như những hoạt động ngoài lớp học do nhà trường tổ chức để bổ sung cho chương trình học. Cùng hướng tiếp cận kết quả đầu ra trong giáo dục, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) đã chia năng lực thành 3 nhóm: năng lực nhận thức, năng lực thái độ, năng lực nghề nghiệp. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là phát triển năng lực hành động tức là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, các vấn đề trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động.
Như vậy năng lực người học cần đạt là cơ sở để xác định các mục tiêu, nội dung, hoạt động, phương pháp ….dạy học mà người dạy cần phải căn cứ vào đó để tiến hành các hoạt động giảng dạy. Chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực là dạy học định hướng kết quả đầu ra, chú trọng năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn. 5 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là mô hình dạy học nhằm phát triển tối đa năng lực của người học, trong đó, người học tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của người dạy. Quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học trên nguyên lý: - Học đi đôi với hành.
- Lý luận gắn với thực tiễn. - Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội. Mục tiêu dạy học phát triển năng lực trong môn Khoa học tự nhiên ở Trung học cơ sở Môn KHTN được xây dựng và phát triển trên nền tảng các khoa học vật lí, hóa học, sinh học và khoa học Trái Đất. Đối tượng nghiên cứu của KHTN là các sự vật, hiện tượng, quá trình, các thuộc tính cơ bản về sự tồn tại, vận động của thế giới tự nhiên.
Trong chương trình môn KHTN, nội dung giáo dục về những nguyên lí và khái niệm chung nhất của thế giới tự nhiên được tích hợp theo nguyên lí của tự nhiên, bảo đảm tính logic bên trong của từng mạch nội dung. Đối tượng nghiên cứu của môn KHTN gần gũi với đời sống hằng ngày của HS. KHTN là khoa học thực nghiệm. Vì vậy, thực hành thí nghiệm trong phòng thực hành và phòng học bộ môn, ở thực địa và các cơ sở sản xuất có vai trò, ý nghĩa quan trọng và là đặc trưng của môn học này.
Thông qua việc tổ chức các hoạt động thực hành, thí nghiệm, môn KHTN giúp HS khám phá thế giới tự nhiên, phát triển nhận thức, tư duy 6 logic góp phần phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động, hình thành nhân cách phẩm chất của người lao động mới năng động, sáng tạo và biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Tổ chức hoạt động trải nghiệm thường sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực. Trong khuôn khổ của sáng kiến kinh nghiệm, tôi xin đề cập sâu hơn về tổ chức hoạt động trải nghiệm như thế nào trong thiết kế bài giảng môn Khoa học tự nhiên 8, lĩnh vực hóa học nhằm phát triển năng lực học sinh. Hoạt động trải nghiệm và các bước tiến hành.
Mô hình học trải nghiệm của David Kolb Thuyết Học theo trải nghiệm của David Kolb đã nhấn mạnh, kinh nghiệm đóng vai trò quan trọng trong quá trình học tập: “Học tập là quá trình mà kiến thức được tạo ra thông qua việc chuyển đổi kinh nghiệm. Kiến thức là kết quả của sự kết hợp giữa nắm bắt kinh nghiệm và chuyển đổi nó” (Kolb, 1984, tr 21). Năm 1984, David Kolb đã đưa ra mô hình học trải nghiệm gồm 04 giai đoạn sau: - Trải nghiệm cụ thể: Học tập thông qua các hoạt động, hành vi, thao tác cụ thể, trực tiếp gắn với bối cảnh thực tế, người học tham gia vào một trải nghiệm mới, kinh nghiệm có được thông qua làm, hoạt động trong hoàn cảnh cụ thể. Người học có thể đã đọc một số tài liệu, tham dự bài giảng, xem một số video trên Internet về chủ đề đang học tập,.
Tất cả các yếu tố đó sẽ tạo ra những kinh nghiệm rời rạc nhất định cho người học. - Quan sát, phản ánh: Người học quan sát các hoạt động và hệ thống lại những kinh nghiệm đã có, khám phá các đặc điểm, ý nghĩa của kiến thức; từ đó, cùng nhau chia sẻ, phân tích, thảo luận để thống nhất quan điểm, nhận xét vấn đề một cách hệ thống. Tạp chí Giáo dục (2022), 22(5), 37-41 ISSN: 2354-075339. - Trừu tượng hóa khái niệm: Sau khi quan sát kĩ, chi tiết, người học tiến hành khái niệm hóa các kinh nghiệm đã thu được, học tập thông qua việc xây dựng khái niệm, tổng hợp và phân tích những gì quan sát được, giải thích các quan sát, khái niệm trừu tượng; thông qua thao tác tư duy, chủ thể có được sự nhận biết bản chất về trừu tượng; thông qua thao tác tư duy, chủ thể có được sự nhận biết bản chất về đối tượng.
- Thử nghiệm tích cực: Người học đã rút kinh nghiệm từ thực tiễn với các luận cứ và suy luận được liên kết chặt chẽ, sau đó vận dụng kinh nghiệm đó vào thực tiễn để xác nhận hoặc phủ nhận các khái niệm từ bước trước. - Như vậy, vận dụng mô hình học trải nghiệm của David Kolb, GV có thể thiết kế hoạt động học tập cho HS thông qua 04 giai đoạn. Việc bắt đầu từ giai đoạn nào 7 cho phù hợp và có hiệu quả sẽ dựa vào nội dung, đặc điểm của người học và mục tiêu dạy học. GV cần xác định được những kiến thức, kinh nghiệm đã có của người học, từ đó thiết kế các nhiệm vụ học tập trong vùng phát triển gần và tạo môi trường học tập tương tác để người học tự lực học tập, chuyển hóa thành kinh nghiệm của bản thân.
Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm: Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018: “HĐTN là hoạt động giáo dục, trong đó HS dựa trên sự tổng hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực giáo dục và nhóm kĩ năng khác nhau để trải nghiệm thực tiễn, tham gia hoạt động phục vụ cộng đồng, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và một số năng lực đặc thù của hoạt động này” (Bộ GD-ĐT, 2018b). Như vậy, HĐTN có thể coi là trải nghiệm với những hoạt động có các mục tiêu, nội dung rõ ràng, đòi hỏi người tham gia phải tự giác, tích cực, chủ động vào quá trình hoạt động mới có hiệu quả: “Trong HĐTN, HS được thực hành, trải nghiệm những kiến thức, kĩ năng đã học trong các môn học; đồng thời, tiếp tục tìm tòi, mở rộng và ứng dụng kiến thức vào thực tiễn. Khi đặt ra một yêu cầu trải nghiệm, HS cần hoạt động, hoàn thành một sản phẩm và sản phẩm đó chính là kết quả của HĐTN. Do vậy, HĐTN có vai trò quan trọng đối với việc hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của HS” (Bộ GD-ĐT, 2015).