SKKN cấp tỉnh: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác nữ công công đoàn các trường ngoài công lập

SKKN cấp tỉnh về giải pháp nâng cao hiệu quả công tác nữ công công đoàn trường ngoài công lập. Chia sẻ kinh nghiệm, giải pháp thực tế, hiệu quả.

Trường đại học

Trường THPT Nguyễn Trường Tộ - Vinh

Chuyên ngành

Công đoàn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sáng kiến kinh nghiệm

2023 - 2024

58
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỤC LỤC

I. PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ

II. PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1. I. CƠ SỞ KHOA HỌC

1.1. 1. Cơ sở thực tiễn tổ chức hoạt động nữ công ở trƣờng THPT Nguyễn Trƣờng Tộ - Vinh

1.2. 2. Đối với nữ cán bộ, giáo viên, nhân viên

1.3. 2. Về phía nữ học sinh

2. II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NỮ CÔNG Ở TRƢỜNG THPT NGUYỄN TRƢỜNG TỘ - VINH

2.1. 1. Giải pháp lựa chọn Ban nữ công quần chúng

2.1.1. 1. Bài học kinh nghiệm

2.2. 2. Giải pháp phân công nhiệm vụ và xây dựng kế hoạch của Ban nữ công

2.2.1. 2. Giải pháp phân công nhiệm vụ
2.2.2. 2. Giải pháp xây dựng kế hoạch

2.3. 3. Giải pháp đổi mới công tác tuyên truyền nâng cao hiểu biết cho nữ CBNGNLĐ

2.3.1. 3. Bài học kinh nghiệm

2.4. 4. Giải pháp triển khai các hoạt động cụ thể của Ban nữ công trƣờng THPT Nguyễn Trƣờng Tộ - Vinh

2.4.1. 4. Giải pháp xây dựng khối đoàn kết trong nữ cán bộ, giáo viên, nhân viên
2.4.1.1. 4. Kết quả đạt được
2.4.1.2. 4. Bài học kinh nghiệm
2.4.2. 4. Giải pháp xây dựng khối đoàn kết trong nữ học sinh
2.4.2.1. 4.Kết quả đạt được
2.4.2.2. 4. Bài học kinh nghiệm
2.4.3. 4. Giải pháp giáo dục bình đẳng giới trong cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh
2.4.3.1. 4. Kết quả đạt được
2.4.3.2. 4. Bài học kinh nghiệm
2.4.4. 4. Giải pháp chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng cho nữ CBNGNLĐ
2.4.4.1. 4. Kết quả đạt được
2.4.4.2. 4. Bài học kinh nghiệm
2.4.5. 4. Giải pháp xây dựng phong trào thi đua“Giỏi việc trường, đảm việc nhà” trong nữ cán bộ, giáo viên, nhân viên
2.4.5.1. 4. Kết quả đạt được
2.4.5.2. 4. Bài học kinh nghiệm
2.4.6. 4. Giải pháp xây dựng mối gắn kết giữa nữ cán bộ, giáo viên, nhân viên với các đơn vị tổ chức ngoài nhà trường
2.4.6.1. 4. Kết quả đạt được
2.4.6.2. 4. Bài học kinh nghiệm
2.4.7. 4. Giải pháp xây dựng nét đẹp nữ cán bộ, giáo viên, nhân viên và nữ học sinh nơi trường học
2.4.7.1. 4. Kết quả đạt được
2.4.7.2. 4. Bài học kinh nghiệm

3. III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC

3.1. 1. Đối với nữ cán bộ, giáo viên, nhân viên

3.2. 2. Đối với nữ học sinh

4. IV. KHẢO SÁT SỰ CẤP THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT

4.1. 1. Mục đích khảo sát

4.2. 2. Nội dung và phƣơng pháp khảo sát

4.2.1. 2. Nội dung khảo sát
4.2.2. 2. Phương pháp khảo sát và thang đánh giá

4.3. 3. Đối tƣợng khảo sát

4.4. 4. Kết quả khảo sát về sự cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất

4.4.1. 4. Sự cấp thiết của các giải pháp đã đề xuất
4.4.2. 4. Tính khả thi của các giải pháp đề xuất

III. PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. 1. Kiến nghị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Toàn cảnh công tác nữ công tại trường ngoài công lập

Công tác nữ công trong hệ thống giáo dục giữ một vai trò chiến lược, đặc biệt tại các trường ngoài công lập. Đây không chỉ là hoạt động bảo vệ quyền lợi mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển toàn diện của đội ngũ lao động nữ, chiếm tỷ lệ lớn trong ngành. Sáng kiến kinh nghiệm này tập trung vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và phân tích sâu sắc thực tiễn, nhằm đề xuất các giải pháp khả thi. Cơ sở lý luận của công tác nữ công được xây dựng trên nền tảng các văn bản pháp lý quan trọng như Nghị quyết 11/NQ-TW của Bộ Chính trị, Luật Bình đẳng giới, và các chỉ thị của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Các văn bản này khẳng định vai trò của công đoàn giáo dục trong việc bảo vệ quyền lợi cho lao động nữ và thúc đẩy công tác bình đẳng giới. Tại các trường ngoài công lập, công tác này mang những đặc thù riêng biệt. Nguồn lực tài chính phụ thuộc chủ yếu vào học phí, cơ chế hoạt động linh hoạt nhưng cũng tạo ra nhiều áp lực về ổn định việc làm và thu nhập. Thực tiễn tại Trường THPT Nguyễn Trường Tộ - Vinh cho thấy, dù có nhiều thuận lợi như đội ngũ nữ giáo viên có trình độ cao (trên 45% trên chuẩn) và tinh thần đoàn kết, vẫn còn đó những thách thức không nhỏ. Việc hiểu rõ những đặc điểm này là tiền đề quan trọng để xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nữ công công đoàn cơ sở một cách bền vững.

1.1. Cơ sở lý luận và pháp lý cho hoạt động nữ công công đoàn

Cơ sở lý luận cho sáng kiến kinh nghiệm công tác nữ công bắt nguồn từ các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước. Nghị quyết 11/NQ-TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là kim chỉ nam. Bên cạnh đó, Luật Bình đẳng giới và Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 tạo hành lang pháp lý vững chắc. Các văn bản chỉ đạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, như Nghị quyết 06b/QĐ-TLĐ và Chỉ thị 03, cụ thể hóa nhiệm vụ của công đoàn trong việc đẩy mạnh phong trào thi đua 'Giỏi việc trường, đảm việc nhà'. Những văn bản này nhấn mạnh vai trò của ban nữ công là tham mưu cho ban chấp hành công đoàn về chính sách liên quan đến lao động nữ, gia đình và trẻ em. Nhiệm vụ của ban nữ công không chỉ dừng lại ở việc tổ chức phong trào mà còn phải đại diện, tham gia giải quyết các vấn đề trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của nữ đoàn viên.

1.2. Phân tích đặc thù công tác nữ công tại các trường tư thục

Hoạt động tại các trường ngoài công lập có những đặc thù sâu sắc. Khác với trường công lập, quyền lợi của cán bộ, giáo viên không hoàn toàn theo quy định của nhà nước mà phụ thuộc nhiều vào quy chế chi tiêu nội bộ và kết quả hoạt động của trường. Nguồn lực phát triển chủ yếu dựa vào học phí, gây áp lực lớn lên công tác tuyển sinh và ổn định thu nhập cho người lao động. Tài liệu gốc chỉ rõ: “Làm sao để nâng cao đời sống người lao động? Làm sao để người lao động yên tâm công tác, cống hiến hết mình cho Nhà trường?” là những câu hỏi thường trực. Chính đặc thù trường ngoài công lập này đòi hỏi công tác nữ công công đoàn phải linh hoạt, sáng tạo và thực chất hơn. Việc chăm lo đời sống nữ cán bộ giáo viên không chỉ là trách nhiệm mà còn là giải pháp giữ chân nhân tài và xây dựng khối đoàn kết, tạo nên sức mạnh cạnh tranh cho nhà trường.

II. Giải mã thách thức trong công tác nữ công trường tư thục

Hoạt động công đoàn tại các trường ngoài công lập đối mặt với nhiều thách thức đặc thù, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác nữ công. Một trong những khó khăn lớn nhất đến từ cơ cấu tổ chức và chế độ chính sách. Cán bộ nữ công thường làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, vừa phải đảm bảo công tác chuyên môn với cường độ cao, vừa phải tổ chức các hoạt động công đoàn. Điều này dẫn đến hiệu quả chưa như kỳ vọng. Tài liệu nghiên cứu chỉ ra rằng, Ban nữ công quần chúng không có chế độ chính sách đãi ngộ riêng theo quy định, làm giảm động lực và sự nhiệt tình của các thành viên. Thêm vào đó, áp lực từ môi trường trường tư thục là rất lớn. Việc tự chủ tài chính, sự cạnh tranh trong tuyển sinh và yêu cầu không ngừng đổi mới giáo dục đặt gánh nặng lên vai đội ngũ giáo viên, đặc biệt là lao động nữ. Thời gian dành cho các hoạt động phong trào bị hạn chế. Nội dung sinh hoạt của công đoàn đôi khi còn đơn điệu, chưa đủ sức hấp dẫn, dẫn đến việc tổ chức các hoạt động mang tính hình thức. Việc nâng cao chất lượng hoạt động công đoàn trong bối cảnh này đòi hỏi phải có những giải pháp đột phá, giải quyết tận gốc những rào cản về cơ chế và tâm lý.

2.1. Khó khăn về tổ chức nhân sự và chế độ đãi ngộ

Một trong những rào cản chính là vấn đề nhân sự và chế độ. Cán bộ nữ công thường xuyên thay đổi theo nhiệm kỳ, lại hoạt động kiêm nhiệm nên thiếu tính chuyên nghiệp và thời gian đầu tư. SKKN gốc nhấn mạnh: “Cán bộ công đoàn không qua đào tạo, mới chỉ là kiêm nhiệm nên trong vấn đề thực hiện còn gặp nhiều khó khăn”. Hơn nữa, việc Ban nữ công quần chúng không có chế độ chính sách theo quy định hiện hành là một bất cập lớn, chưa thực sự tạo động lực khuyến khích chị em tham gia tích cực vào hoạt động nữ công công đoàn cơ sở. Điều này làm cho việc triển khai các kế hoạch dài hạn và có chiều sâu trở nên khó khăn. Việc thiếu các chương trình tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ riêng cho cán bộ nữ công cũng là một hạn chế cần được khắc phục.

2.2. Áp lực từ môi trường giáo dục ngoài công lập và nội dung hoạt động

Môi trường trường ngoài công lập tạo ra áp lực kép. Giáo viên nữ không chỉ chịu áp lực về chuyên môn, đổi mới phương pháp giảng dạy mà còn phải đối mặt với sự thiếu ổn định về thu nhập ở một số bộ môn. Cơ sở vật chất đôi khi còn hạn chế, ví dụ như thiếu phòng học khiến việc tập trung toàn thể cán bộ giáo viên cho các buổi sinh hoạt chung trở nên khó khăn. Nội dung và phương thức hoạt động của công đoàn, ban nữ công đôi khi còn đơn điệu, chưa thực sự đổi mới để thu hút đoàn viên. Nếu các hoạt động chỉ mang tính hình thức, không giải quyết được các vấn đề thiết thực như chăm lo đời sống nữ cán bộ giáo viên hay bảo vệ quyền lợi cho lao động nữ, thì sẽ khó tạo ra sự gắn kết và lan tỏa. Đây là thách thức lớn cần có giải pháp đổi mới nội dung hoạt động nữ công.

III. Bí quyết xây dựng nền tảng công tác nữ công vững chắc

Để nâng cao hiệu quả công tác nữ công, việc xây dựng một nền tảng vững chắc từ nhân sự đến kế hoạch là yếu tố tiên quyết. Sáng kiến kinh nghiệm từ trường THPT Nguyễn Trường Tộ - Vinh đề xuất một mô hình hiệu quả bắt đầu từ việc lựa chọn nhân sự. Vai trò của ban nữ công chỉ được phát huy tối đa khi các thành viên được lựa chọn đúng người, đúng việc. Ban nữ công nên bao gồm các thành viên từ Ban chấp hành công đoàn, Đoàn trường và Tổ tư vấn tâm lý, tạo ra một mạng lưới phối hợp chặt chẽ. Sau khi có nhân sự, việc xây dựng kế hoạch và phân công nhiệm vụ khoa học là bước tiếp theo. Kế hoạch hoạt động cần bám sát nhiệm vụ năm học, có mục tiêu rõ ràng cho từng tháng, từ việc phát động thi đua đến kiểm tra chế độ chính sách. Song song đó, đổi mới nội dung hoạt động nữ công thông qua công tác tuyên truyền là cực kỳ quan trọng. Thay vì các phương pháp truyền thống, việc tận dụng mạng xã hội, tổ chức sân khấu hóa, và xây dựng đội ngũ tuyên truyền viên cơ sở sẽ giúp thông điệp của công đoàn đến gần hơn với đoàn viên, tạo sự đồng thuận và hưởng ứng tích cực. Nền tảng này là cơ sở để triển khai các hoạt động cụ thể, mang lại lợi ích thiết thực cho lao động nữ.

3.1. Giải pháp lựa chọn Ban nữ công quần chúng năng lực tâm huyết

Thành công của công tác nữ công bắt đầu từ việc lựa chọn nhân sự. SKKN đề xuất thành lập Ban nữ công gồm 3 thành viên, với thành phần đa dạng: một người từ BCH Công đoàn, một từ BCH Đoàn trường, và một từ Tổ tư vấn tâm lý học đường. Sự kết hợp này tạo ra sức mạnh tổng hợp. Thành viên từ công đoàn đảm bảo hoạt động bám sát mục tiêu chung. Thành viên từ Đoàn trường giúp kết nối và tổ chức các hoạt động cho học sinh nữ. Thành viên từ Tổ tư vấn tâm lý hỗ trợ giải quyết các vấn đề về tinh thần, sức khỏe cho cả giáo viên và học sinh. Tiêu chí lựa chọn không chỉ dựa trên chuyên môn mà còn phải là những người có tinh thần trách nhiệm, tâm huyết, và khả năng lắng nghe, tập hợp đoàn viên. Đây là mô hình hay về công tác nữ công giúp tối ưu hóa sự phối hợp giữa các tổ chức trong nhà trường.

3.2. Phương pháp xây dựng kế hoạch và phân công nhiệm vụ khoa học

Một kế hoạch chi tiết là lộ trình cho mọi hoạt động thành công. Ban nữ công cần xây dựng kế hoạch hoạt động theo từng tháng trong năm học, dựa trên nhiệm vụ chung của nhà trường và công đoàn cấp trên. Kế hoạch phải bao quát các mảng: tuyên truyền chính sách, tổ chức phong trào, chăm lo đời sống, kiểm tra giám sát. Việc phân công nhiệm vụ cho từng thành viên phải rõ ràng, cụ thể, phát huy được thế mạnh của mỗi người. Ví dụ, trưởng ban phụ trách điều hành chung và đối ngoại; một ủy viên phụ trách phong trào, đời sống; ủy viên khác phụ trách mảng tư vấn, tâm lý. Việc xây dựng một quy chế hoạt động của ban nữ công rõ ràng ngay từ đầu nhiệm kỳ sẽ giúp guồng máy vận hành trơn tru, tránh chồng chéo và nâng cao hiệu quả công việc.

IV. Phương pháp triển khai các hoạt động nữ công đột phá

Từ nền tảng nhân sự và kế hoạch đã có, việc triển khai các hoạt động cụ thể một cách sáng tạo là chìa khóa để tạo ra sự đột phá. Trọng tâm của các hoạt động này là xây dựng khối đoàn kết vững mạnh, bởi đoàn kết chính là sức mạnh. Các hoạt động chuyên môn chung như sinh hoạt tổ, hội thảo, dự giờ cần được tận dụng để tạo môi trường trao đổi, học hỏi lẫn nhau. Bên cạnh đó, việc chăm lo đời sống nữ cán bộ giáo viên phải được thể hiện qua những hành động thiết thực. Công đoàn cần giám sát chặt chẽ việc thực hiện chế độ chính sách, từ nâng lương, bảo hiểm đến các khoản phụ cấp, đồng thời duy trì công tác thăm hỏi, hiếu hỉ kịp thời. Đặc biệt, việc đẩy mạnh phong trào thi đua 'Giỏi việc trường, đảm việc nhà' cần được đổi mới liên tục. Thay vì chỉ tập trung vào thành tích chuyên môn, phong trào cần mở rộng sang các hoạt động rèn luyện thể chất, văn hóa văn nghệ, và cả việc ứng dụng kiến thức vào phát triển kinh tế gia đình. Những mô hình hay về công tác nữ công như vậy sẽ tạo ra không khí sôi nổi, gắn kết và thực sự nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho lao động nữ.

4.1. Cách thức xây dựng khối đoàn kết trong nữ cán bộ giáo viên

Xây dựng khối đoàn kết là nhiệm vụ cốt lõi. Giải pháp được đưa ra là tích hợp hoạt động trên nhiều phương diện. Về chuyên môn, cần tổ chức các buổi sinh hoạt liên tổ, hội thảo chia sẻ kinh nghiệm để tạo sự gắn kết học thuật. Về đời sống, công tác chăm lo phải đi vào thực chất: đảm bảo 100% đoàn viên được ký hợp đồng, đóng bảo hiểm đầy đủ, các chế độ thai sản, nghỉ ốm được giải quyết kịp thời. Về tinh thần, cần duy trì thường xuyên các hoạt động văn hóa, thể thao qua các câu lạc bộ như bóng chuyền hơi, dân vũ. Các hoạt động này không chỉ giúp rèn luyện sức khỏe mà còn là cầu nối giao lưu, xây dựng tình đồng nghiệp thân ái. Một báo cáo tổng kết công tác nữ công hiệu quả phải thể hiện được sức mạnh của khối đoàn kết này.

4.2. Giải pháp chăm lo bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho lao động nữ

Đây là chức năng cơ bản và quan trọng nhất của công đoàn. Ban nữ công phải đóng vai trò đại diện, giám sát việc thực hiện các chính sách liên quan đến lao động nữ. SKKN nhấn mạnh việc cần “chủ động tham gia góp ý cùng lãnh đạo nhà trường trong việc xây dựng các chế độ chính sách” và bổ sung các điều khoản có lợi cho chị em vào Thỏa ước lao động tập thể. Cụ thể là các chính sách đãi ngộ thêm cho giáo viên đạt thành tích cao, chế độ hỗ trợ khi đi học nâng cao trình độ. Ngoài ra, việc thường xuyên nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của từng cá nhân để phản ánh và đề xuất giải quyết kịp thời cũng là một giải pháp quan trọng. Khi người lao động cảm thấy quyền lợi được bảo vệ quyền lợi cho lao động nữ một cách chính đáng, họ sẽ yên tâm công tác và cống hiến.

4.3. Đẩy mạnh phong trào thi đua Giỏi việc trường đảm việc nhà

Đây là phong trào xương sống của hoạt động nữ công công đoàn cơ sở. Để phong trào đi vào chiều sâu, cần có sự kết hợp hài hòa giữa “việc trường” và “việc nhà”. Về “việc trường”, ban nữ công cần phối hợp với chuyên môn, tạo điều kiện để chị em tham gia các cuộc thi giáo viên giỏi, viết sáng kiến kinh nghiệm, bồi dưỡng học sinh giỏi. Về “việc nhà”, cần vận động xây dựng gia đình nhà giáo văn hóa, nuôi con khỏe, dạy con ngoan. Điểm mới trong SKKN là khuyến khích chị em ứng dụng chuyên môn vào phát triển kinh tế gia đình, như mô hình trồng nấm, làm sản phẩm thủ công từ nguyên liệu thiên nhiên. Việc xây dựng và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong phong trào này sẽ tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ, khích lệ toàn thể nữ đoàn viên phấn đấu.

V. Minh chứng hiệu quả từ SKKN công tác nữ công cấp tỉnh

Việc áp dụng các giải pháp từ sáng kiến kinh nghiệm công tác nữ công đã mang lại những kết quả tích cực và có thể đo lường được tại trường THPT Nguyễn Trường Tộ - Vinh. Đối với đội ngũ nữ cán bộ, giáo viên, nhân viên, sự thay đổi rõ rệt nhất là về tư tưởng chính trị và tinh thần đoàn kết. 100% nữ đoàn viên thực hiện tốt văn hóa công sở, không có trường hợp vi phạm pháp luật. Niềm tin vào tổ chức công đoàn được củng cố khi các chế độ chính sách được đảm bảo kịp thời, công tác thăm hỏi được duy trì thường xuyên. Hiệu quả giáo dục được nâng cao rõ rệt, thể hiện qua các thành tích trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi và luyện thi đại học, phần lớn do giáo viên nữ đảm nhiệm. Trong 3 năm, đã có hàng chục lượt nữ giáo viên đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp tỉnh, chiến sĩ thi đua, được nhận bằng khen của UBND Tỉnh và Bộ GD&ĐT. Phong trào thi đua sôi nổi đã tạo ra một môi trường làm việc tích cực. Đối với nữ học sinh, các hoạt động do ban nữ công phối hợp tổ chức đã tạo ra những tác động lan tỏa, giúp các em phát triển toàn diện, tự tin và năng động hơn.

5.1. Chuyển biến tích cực đối với nữ cán bộ giáo viên và nhân viên

Kết quả thực tiễn cho thấy sự chuyển biến toàn diện. Về chuyên môn, số lượng giáo viên nữ đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp Tỉnh, chiến sĩ thi đua cơ sở, và được nâng lương trước thời hạn tăng đều qua các năm. Cụ thể, năm học 2022-2023 có “7 nữ giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp Tỉnh, 6 nữ giáo viên đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở, 9 nữ giáo viên được nâng lương trước thời hạn”. Về phong trào, các hoạt động văn nghệ, thể thao đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu, giúp giải tỏa căng thẳng và tăng cường sức khỏe. Công đoàn nhà trường liên tục được xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” và nhận Bằng khen của Liên đoàn Lao động Tỉnh. Đây là minh chứng rõ ràng cho hiệu quả của các giải pháp đã triển khai.

5.2. Tác động lan tỏa đến phong trào học tập của nữ học sinh

Các hoạt động không chỉ giới hạn ở giáo viên mà còn lan tỏa mạnh mẽ đến học sinh. Việc thành lập các câu lạc bộ, tổ chức các cuộc thi đã tạo ra nhiều sân chơi bổ ích, giúp nữ sinh phát triển năng khiếu và kỹ năng mềm. Kết quả học tập của nữ sinh có sự cải thiện đáng kể. Số lượng nữ sinh đạt giải học sinh giỏi cấp Tỉnh chiếm tỷ lệ cao. Ví dụ, năm học 2022-2023, có 7/14 học sinh giỏi tỉnh là nữ. Đặc biệt, năm học 2023-2024, em Trần Thị Thúy An đã trở thành thủ khoa môn Sinh học. Phong trào Đoàn và các hoạt động tình nguyện cũng thu hút đông đảo nữ sinh tham gia, hình thành nên một thế hệ nữ sinh năng động, sáng tạo và có trách nhiệm với cộng đồng.

VI. Bài học kinh nghiệm từ SKKN và hướng phát triển tương lai

Thành công của sáng kiến kinh nghiệm công tác nữ công tại trường THPT Nguyễn Trường Tộ - Vinh đã đúc kết nhiều bài học quý báu. Bài học quan trọng nhất là sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị trong nhà trường, từ cấp ủy, ban giám hiệu đến các tổ chức đoàn thể. Mọi hoạt động phải xuất phát từ thực tiễn và nguyện vọng chính đáng của đoàn viên. Việc đổi mới nội dung hoạt động nữ công phải diễn ra liên tục, tránh sự nhàm chán, hình thức. Công tác thi đua khen thưởng phải đảm bảo công bằng, kịp thời, thực sự là đòn bẩy thúc đẩy phong trào. Từ những kinh nghiệm này, có thể đưa ra các kiến nghị để nhân rộng mô hình. Cần có cơ chế, chính sách đãi ngộ cụ thể cho cán bộ nữ công kiêm nhiệm để tạo động lực. Công đoàn cấp trên cần tổ chức nhiều hơn các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ và các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm giữa các đơn vị, đặc biệt là khối trường ngoài công lập. Việc tiếp tục nghiên cứu và áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý và tổ chức hoạt động nữ công cũng là một hướng đi cần thiết trong tương lai, giúp nâng cao chất lượng hoạt động công đoàn một cách bền vững.

6.1. Đúc kết những bài học kinh nghiệm cốt lõi trong thực tiễn

Bài học đầu tiên là tầm quan trọng của sự phối hợp. Thành công chỉ đến khi có sự đồng lòng, chung sức giữa Ban nữ công, BCH Công đoàn, chuyên môn và Đoàn thanh niên. Thứ hai, hoạt động phải có trọng tâm, trọng điểm và phải thực chất, hướng tới lợi ích thiết thực của chị em. Thi đua phải đi đôi với khen thưởng kịp thời, công khai, minh bạch. Thứ ba, phải chủ động phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng các điển hình tiên tiến. Những tấm gương sống động có sức thuyết phục và lan tỏa lớn hơn bất kỳ khẩu hiệu nào. Cuối cùng, người cán bộ nữ công phải thực sự tâm huyết, gần gũi, là chỗ dựa tin cậy để chị em chia sẻ tâm tư, nguyện vọng. Đây là những kinh nghiệm xương máu để xây dựng một tổ chức công đoàn vững mạnh.

6.2. Kiến nghị giải pháp nhân rộng mô hình hoạt động hiệu quả

Để nhân rộng mô hình này, SKKN đề xuất một số kiến nghị. Đối với công đoàn cấp trên, cần nghiên cứu và ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể hơn về quy chế hoạt động của ban nữ công tại các trường ngoài công lập, có thể kèm theo cơ chế phụ cấp trách nhiệm cho cán bộ nữ công. Cần tăng cường tổ chức các buổi giao lưu, hội thảo chuyên đề để các đơn vị có cơ hội học hỏi lẫn nhau. Đối với các đơn vị trường học, cần mạnh dạn trao quyền và tạo điều kiện về thời gian, kinh phí cho ban nữ công hoạt động. Cần đưa kết quả hoạt động công đoàn, hoạt động nữ công vào một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá, xếp loại thi đua của cá nhân và tập thể hàng năm. Việc này sẽ giúp nâng cao vị thế và vai trò của công tác nữ công công đoàn trong toàn ngành.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn. - Chương II: Các giải pháp thực hiện. - Chương III: Kết quả thực hiện. - Chương IV: Khảo sát sự cấp thiết và tính khả thi 6.

Đóng góp và tính mới của đề tài Các công trình và đề tài nghiên cứu về các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nữ công đã có rất nhiều. Tuy nhiên một công trình nghiên cứu đối với một trường THPT ngoài công lập thì chưa có. Nên đề tài nghiên cứu các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động nữ công tại trường THPT Nguyễn Trường Tộ - Vinh sẽ góp phần tạo kênh tham khảo, nhân rộng các hoạt động tại các trường học ngoài công lập khác trên địa bàn tỉnh Nghệ An. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU I.

CƠ SỞ KHOA HỌC 1. Cơ sở lí luận Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vị trí của Công đoàn ngày càng được khẳng định và thừa nhận trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội mà Công đoàn tham gia. Tiếp tục quán triệt Nghị quyết 11/NQ-TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, Luật bình đẳng giới, Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới của Thủ tướng Chính phủ giai đoạn 2021- 2030; Kế hoạch 379/KH-UBND của UBND Tỉnh Nghệ An ngày 13/7/2021 về việc thực hiện Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2021 – 2030; tuyên truyền, phổ biến sâu rộng ý nghĩa của phong trào thi đua “Giỏi việc trường, đảm việc nhà” trong CBNGNLĐ, những bài học kinh nghiệm, 3 những gương điển hình của các tập thể, cá nhân tiêu biểu.

Lồng ghép phong trào thi đua “Giỏi việc trường, đảm việc nhà” với phong trào thi đua “Lao động giỏi, Lao động sáng tạo”, phong trào “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Chỉ thị 05 của Bộ chính trị khóa XII) với chuyên đề toàn khóa “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Cũng như Mác - Lênin, từ lịch s dân tộc, lịch s thế giới, Bác Hồ thấy r vai trò của phụ nữ thế giới nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng. Người nhận x t: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đ p, rực r ”. Người cũng rút ra kết luận “Xem trong lịch s cách mệnh chẳng có lần nào là không có đàn bà tham gia”, rồi Người khẳng định: “An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công”.

Trong công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, cùng với giai cấp công nhân, đội ngũ nữ CNVCLĐ đã lớn mạnh không ngừng cả về số lượng và chất lượng, chiếm trên 48% tổng số CNVCLĐ. Ở một số ngành, nghề, nữ chiếm tỉ lệ khá cao như Ngân hàng, Giáo dục, Y tế, Dệt may, Cao su. Nữ CNVCLĐ đã có nhiều đóng góp quan trọng vào các thành tựu kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc. Hoạt động nữ công trong giai đoạn hiện nay được triển khai theo tinh thần Nghị quyết số: 06b/QĐ - TLĐ, ngày 29 tháng 01 năm 2011 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam về công tác vận động nữ CNVCLĐ thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước; Chương trình hành động số 190 của tổng LĐLĐ Việt Nam về thực hiện Nghị quyết 11 của Bộ chính trị.

Chỉ thị số 03 của Tổng LĐLĐ Việt Nam về việc tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Giỏi việc nước - đảm việc nhà”. Nghị quyết Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam, Nghị quyết Đại hội XVI CĐGD Việt Nam, Nghị quyết Đại hội XIX Công đoàn Nghệ An, Chỉ thị 21-CT/TW ngày 20/01/2018 của Ban Bí thư về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới. Nghị quyết Đại hội XX Công đoàn ngành Giáo dục Nghệ An. Ban nữ công công đoàn có nhiệm vụ tham mưu giúp Ban chấp hành công đoàn cùng cấp về công tác xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật liên quan đến lao động nữ, về giới, bình đẳng giới, vì sự phát triển của phụ nữ, công tác cán bộ nữ, dân số, sức khỏe sinh sản, gia đình, trẻ em; đại diện tham gia giải quyết các vấn đề có liên quan trực tiếp đến lao động nữ và trẻ em.

Ban nữ công là một bộ phận quan trọng của tổ chức công đoàn, hoạt động dưới sự chỉ đạo của BCH công đoàn. Trong những năm qua hoạt động nữ công của trường đã đạt được nhiều thành tích đáng ghi nhận. Tuy nhiên để có sự phát triển vững mạnh lâu dài và niềm tin thật sự trong đội ngũ giáo viên và các em học sinh đòi hỏi Ban nữ công phải luôn có những giải pháp mới phù hợp với đặc thù của đơn vị. Cơ sở thực tiễn tổ chức hoạt động nữ công ở trƣờng THPT Nguyễn Trƣờng Tộ - Vinh 2.

Thuận lợi Từ khi thành lập cho đến nay, tổ chức Công đoàn luôn được quan tâm, phối kết hợp cùng chuyên môn để thúc đẩy phong trào thi đua “2 tốt”, phong trào “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, luôn thực hiện tốt các cuộc vận động: “Dân chủ - Kỷ cương - Tình thương - Trách nhiệm”, “Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo”; phong trào nữ giáo viên “Giỏi việc trường, đảm việc nhà” các cấp. Có Chi bộ Đảng vững mạnh với gần 40 đảng viên, được sự ủng hộ của lãnh đạo nhà trường và các tổ chức trong trường đối với hoạt động của công đoàn, luôn quan tâm tới phong trào VH - VN - TDTT, đời sống vật chất tinh thần của CBNGNLĐ và đáp ứng những tâm tư nguyện vọng của từng cá nhân. Đồng thời có sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo Công đoàn ngành Giáo dục Nghệ An; bên cạnh đó có sự tham mưu và chỉ đạo trực tiếp của BGH nhà trường cùng với sự cố gắng và ý thức vươn lên của tập thể CBNGNLĐ trong nhà trường. Các hoạt động của Công đoàn đều được phối hợp chặt chẽ, đội ngũ giáo viên đa số đã có cuộc sống gia đình riêng ổn định, có trình độ đào tạo, trình độ tay nghề vững vàng.

Đối với nữ cán bộ, giáo viên, nhân viên X t về mặt số lượng và chất lượng: Trường THPT Nguyễn Trường Tộ - Vinh với 53/70 cán bộ, giáo viên nữ, trong đó có 45,28 % cán bộ, giáo viên đạt trình độ trên chuẩn. Đây là lực lượng đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp giáo dục của nhà trường. Về mặt tư tưởng và hành động: Nữ cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường luôn ý thức và nêu gương về tinh thần đoàn kết, thân ái. Mọi người xem công đoàn nhà trường là cầu nối gắn kết các thành viên để trao đổi, chia sẻ.

Tổ chức công đoàn nhà trường thực sự là một mái ấm đầy tình thương và trách nhiệm. Sức mạnh của khối đại đoàn kết thống nhất là nhân tố quyết định thắng lợi của tập thể nhà trường. Trong môi trường sư phạm, giá trị của sự đoàn kết hết sức quan trọng. Nó tạo ra bầu không khí vui vẻ, thoải mái, kích thích sự khám phá, sáng tạo trong giảng dạy và nghiên cứu, đồng thời tạo ra môi trường thi đua lành mạnh, phát huy được khả năng của các cá nhân và sức mạnh của tập thể, cống hiến cho sự nghiệp giáo dục.

Công tác phối hợp: Công đoàn nhà trường đã được các cấp ban ngành quan tâm và ban hành nhiều chương trình, kế hoạch hành động cụ thể. Ban nữ công trường THPT Nguyễn Trường Tộ - Vinh luôn nhận được sự quan tâm sát sao của Cấp ủy, BGH, BCH công đoàn, sự phối hợp với các tổ chức, lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường đã tạo điều kiện cho nữ cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh thực hiện tốt các mục tiêu và kế hoạch đề ra. Về phía nữ học sinh Tổng học sinh toàn trường có 1.486 em, học sinh nữ 710 em (chiếm tỉ lệ 47,8%). Phần lớn học sinh cởi mở, chân thật và có tinh thần ham học hỏi.

Các em quý cô giáo như những người bạn, người chị và người m , sẵn sàng chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống thường nhật cũng như trong học tập và lao động. Song song với quá trình nghiên cứu học tập và lao động, các em còn có rất nhiều năng khiếu về hát, múa, vẽ, nhảy, hoạt động TDTT, sân khấu hóa. vì vậy rất nhiệt tình, tự nguyện tham gia vào các câu lạc bộ của trường. Từ đó các em tự tin, năng động, sáng tạo trong các hoạt động do công đoàn tổ chức.

Về phía nữ cán bộ, giáo viên, nhân viên Đội ngũ giáo viên hiện nay còn dư thừa cục bộ nên thu nhập của GV một số bộ môn còn thiếu ổn định (các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học …); cơ sở vật chất cần phải được đầu tư thường xuyên, liên tục với kinh phí lớn mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao theo hướng đổi mới giáo dục, trong khi không có sự hỗ trợ từ nguồn nào, tất cả nguồn thu đều dựa vào nguồn học phí của học sinh. Điều kiện cơ sở vật chất của trường còn thiếu phòng học, học sinh phải học hai ca nên sự tập trung CBNGNLĐ trong những kỳ họp, các buổi sinh hoạt câu lạc bộ, văn hóa văn nghệ gặp khó khăn về thời gian.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ