Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn 1. Khái niệm thụ động - Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê) định nghĩa :Thụ động chỉ trạng thái chỉ chịu sự chi phối, tác động từ bên ngoài mà không có bất kì phản ứng tích cực nào. - Thụ động trong học tập là hình thức mà người học đón nhận và xử lí thông tin mà không nhận lại bất kì sự phản hồi hay sự rèn luyện nào. Biểu hiện - Người thụ động sẽ không chủ động đưa ra ý kiến của mình trong bất kì hoàn cảnh nào.
Khi được hỏi về sở thích hay sự lựa chọn họ sẽ im lặng và theo ý kiến của số đông hoặc họ sẽ trả lời “tôi không có ý kiến gì” vì thế họ thường khiến người khác tức giận khi được hỏi ý kiến hoặc đóng góp ý tưởng. - Người thụ động thường không dám khẳng định ý kiến của mình vì họ sợ sẽ nhận lời chê bai từ người khác. Họ không tự tin vào ý kiến của mình và luôn đồng ý với quan điểm của người khác ngay cả khi không nhất trí với quan điểm đó. - Người thụ động họ không muốn làm người khác thất vọng, họ luôn muốn người khác vui vẻ thay vì phải tranh cãi với họ.
Vì vậy, họ sẽ lựa chọn phương án là “đồng ý” thay vì lựa chọn đưa ra ý kiến khác. - “Thành công đôi khi còn phụ thuộc vào may mắn” – chính vì câu nói này người thụ động họ không tin khi hành động có thể thay đổi được cuộc sống. Vì vậy mà những người này luôn trông chờ những điều may mắn sẽ đến với mình. - Người thuộc tuýp người thụ động sẽ không tự đi tìm kiếm cái mới mà đợi người khác giao việc thì họ mới làm.
Sở dĩ có điều này là vì họ cảm thấy hạnh phúc và hài lòng khi sống trong vùng an toàn của mình ngay cả khi điều đó khiến mọi công việc cũng như cuộc sống của họ bị trì trệ, không phát triển. Ảnh hưởng - Người thụ động sẽ không bao giờ dám thể hiện mình trước tập thể, khó hòa nhập với tập thể. - Mất cơ hội tiếp cận cái mới, thụ động khiến bạn trở nên thờ ơ với những thông tin và kiến thức mới. Từ đó dần trở thành thói quen thụ động và tin tưởng mọi thứ xung quanh thay vì tìm tòi, phân tích và phát triển những cái mới.
4 - Bỏ lỡ nhiều cơ hội, điều này cũng chỉ vì bạn chờ đợi một điều gì đó tiện lợi hơn, dễ dàng hơn. Hậu quả là bạn đánh mất rất nhiều cơ hội trong cuộc sống, trong công việc và tình cảm. 5 - Thụ động khiến bạn trở nên khép mình và chỉ quan tâm đến thế giới quan trong bạn. Nó khiến chúng ta ngày càng tự ti về bản thân, chán nản trong công việc, hạn chế tiếp nhận cái mới, đánh mất nhiều lợi ích và phát triển bản thân.
- Việc chỉ quan tâm tới cái mình muốn và tin hoàn toàn vào sự may mắn thay vì thay đổi và phát triển bản thân sẽ khiến bạn luôn thụt lùi ngay cả khi chỉ sống cho hiện tại và quá khứ. - Khi sự thụ động dần trở thành thói quen, sẽ cảm thấy sợ sệt khi đối mặt với những khó khăn, thử thách chúng ta sẽ cảm thấy mình thật kém cỏi, dần dần đánh mất đi giá trị bản thân và trở thành con người nhu nhược. Cơ sở thực tiễn 1.Thực trạng thụ động trong học tập của học sinh THPT Đô Lương 2 hiện nay: Trường THPT Đô Lương 2 là một trường đóng trên địa bàn miền núi, xa trung tâm, đời sống còn gặp nhiều khó khăn, HS chưa có nhiều cơ hội để tiếp cận với cái mới. Hơn nữa, phần đông HS là con em nông thôn, bố mẹ làm ruộng nên môi trường giáo dục gia đình chưa đủ điều kiện để các em phát triển những kĩ năng mềm cần thiết cho cuộc sống hiện đại vì thế đa số các em còn rụt rè, nhút nhát, chưa tự tin, không dám thể hiện mình.
Tâm lí này ảnh hưởng cả trong học tập nên khi đến lớp các em có xu hướng thu mình, không muốn thể hiện, không phát biểu xây dựng bài, không bày tỏ quan điểm cá nhân. Chỉ khi được giáo viên gọi tên mới trả lời. Lâu dần các em sẽ trở nên thụ động, u lì, e ngại, điều này ảnh hưởng rất lớn tới tương lai của các em. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát qua google form 435 Học sinh và thu được kết quả như sau: 6 Qua phát phiếu thăm dò đối với 435 học sinh trong trường, chúng tôi nhận được kết quả khảo sát sau: Biểu hiện rõ nhất của tính thụ động trong học tập của học sinh hiện nay - Qua thực tế khảo sát có thế nhận định, đánh giá như sau: Tính thụ động trong học tập của học sinh hiện nay là một thực trạng đáng lo ngại + Biểu hiện rõ nét nhất của tính thụ động là lười phát biểu xây dựng bài 230/435 học sinh (chiếm 52.9%) + 73/435 học sinh không cùng tham gia các hoạt động nhóm (chiếm 16.8%) + 65/435 học sinh cho rằng không chuẩn bị bài trước khi đến lớp cũng là một biểu hiện của tính thụ động (chiếm 14,9%) - Số liệu khảo sát cũng cho thấy tình trạng học sinh thụ động thể hiện qua việc ít tham gia phát biểu xây dựng bài + 209/435 học sinh trong các tiết học chỉ thỉnh thoảng giơ tay phát biểu (chiếm 48 %) + 101/435 học sinh hiếm khi phát biểu (chiếm 23.2%) 7 Ngoài ra, tình trạng học sinh biết câu trả lời nhưng không muốn giơ tay phát biểu cũng chiếm tỉ lệ % khá cao: + 257/435 học sinh thỉnh thoảng biết câu trả lời nhưng không muốn giơ tay phát biểu (chiếm 59.
Điều này cho thấy tình trạng thụ động trong học tập của học sinh hiện nay khá phổ biến. + Có 22/435 học sinh rơi vào tình trạng thường xuyên biết câu trả lời nhưng không muốn giơ tay phát biểu (chiếm 5,1%) + Trong các tiết học, khi giáo viên đặt câu hỏi thì học sinh thường có phản ứng như thế nào? + Đa phần học sinh (135/435 học sinh) trông chờ sự trả lời từ các bạn khá giỏi (chiếm 31%) + 98/435 học sinh chỉ trả lời khi giáo viên gọi tên mình (chiếm 22,5%) Số liệu trên cho thấy ở học sinh đã hình thành tính ỷ lai và trông chờ vào người khác, ngay cả trong vấn đề học tập Phương pháp học tập mà học sinh thường áp dụng hiện nay: 8 + Số liệu cho thấy: Phần đông học sinh ngoài các giờ học trên lớp, sẽ tham gia các lớp học thêm: 186/435 học sinh (chiếm 42.8%) + 113/435 học sinh (26%) sẽ lên lớp, chờ giáo viên giảng bài rồi chép, sau đó về học thuộc. - Khi giáo viên cho hoạt động nhóm: + 176/435 học sinh có thái độ im lặng, không tham gia đóng góp ý kiến (chiếm 40.5%) + 121/435 học sinh chỉ làm việc khi có sự phân công công việc cụ thể cho từng bạn (chiếm 27.8%) Số liệu trên cho thấy học sinh hiện nay rất ngại tham gia các hoạt động nhóm 1. Thực trạng việc rèn luyện kĩ năng chủ động trong học tập và rèn luyện cho HS của GVCN THPT Đô Lương 2.
Năm học 2023- 2024, Trường THPT Đô Lương 2 gồm có 36 GVCN. Hầu hết các giáo viên chủ nhiệm đều tâm huyết, tận tâm, tận tình, tất cả vì học sinh thân yêu. Hơn ai hết họ hiểu vai trò trách nhiệm của mình đối với nhà trường và đặc biệt đối với học sinh và phụ huynh. GVCN không đơn thuần chỉ là người truyền tải kiến thức cho HS mà họ còn có sứ mệnh giáo dục nhân cách, đạo đức, định hướng tương lai nghề nghiệp cho học trò.
Tuy nhiên, trong việc rèn luyện tính chủ động cho HS, GVCN còn gặp phải một số khó khăn nhất định như áp lực về mặt thành tích, thời gian còn eo hẹp, đang bế tắc trong phương pháp. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng trên và thu được kết quả như sau: Qua phát phiếu thăm dò đối với 19 giáo viên chủ nhiệm trên địa bàn công tác, chúng tôi nhận được kết quả khảo sát sau: 9 Đa số GV còn đang chưa trao quyền tự chủ để học sinh tự giải quyết, hoặc thỉnh thoảng mới để HS thực hiện việc này. Việc định hướng học sinh tự lập kế hoạch cá nhân cho bản thân cũng phần lớn chưa hoặc ít giáo viên định hướng, chỉ có 10,5 % giáo viên đang thực hiện. Trong các giờ sinh hoạt, việc tổ chức các diễn đàn, sân chơi cho học sinh ở mức độ thường xuyên chỉ chiếm 15,8 %.
Nguyên nhân thực trạng - Về phía Giáo viên: Xã hội đang chuyển biến từng ngày, việc chuyển từ chương trình GDPT 10 2006 nặng về truyền thụ kiến thức sang chương trình GDPT 2018 t h e o định hướng phát triển năng lực người học đòi hỏi GV phải có sự thay đổi linh hoạt trong việc sử dụng các phương pháp dạy học, g i á o d ụ c để đạt hiệu qu ả. Tuy nhiên, nh ữ n g n ă m đ ầ u thực hiện chương trình GDPT mới nên đa số giáo viên còn bỡ ngỡ và việc sử dụng các phương pháp dạy học, giáo dục trong những năm gần đây mặc dù đã có sự thay đổi nhưng chưa nhiều. Đa số GV đều nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp tích cực trong giáo dục học sinh đặc biệt là học sinh chủ nhiệm, tuy nhiên đang rất lúng túng trong việc đưa các giải pháp cụ thể và việc sử dụng các PP như thế nào để tổ chức một cách hiệu quả nhất. Giáo viên chưa mạnh dạn trong việc đổi mới, sử dụng PPDH tích cực để khơi gợi niềm hứng thú, niềm đam mê phát huy tính tích cực để PTNL mọi mặt cho HS.
Trong quá trình giáo dục, GV phần lớn lo không đủ thời gian, sợ hoạt động gây ồn ào nên cố gắng chú trọng dạy hết nội dung bài học chứ chưa chú trọng tổ chức các hoạt động nhằm phát triển các năng lực cho HS. - Về phía HS: Học sinh không muốn phát biểu vì chưa thật sự tự tin vào bản thân mình, học sinh sợ khi phát biểu sẽ bị xem là “khác người”. Bên cạnh đó học sinh không muốn tham gia hoạt động nhóm do bắt nguồn từ thói quen học tập trước đây. Như vậy, tính thụ động ở học sinh đã có từ trước đây với phương pháp học tập không phù hợp.
Các em chưa xác đinh được mục đích học tập đúng đắn. Điều này đáng lo ngại khi học sinh bậc THPT nhưng vẫn chưa xác định được động cơ để học tập.