CHƯƠNG I. CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI 1. Thích ứng Thuật ngữ “thích ứng” hay thích nghi có nguồn gốc từ tiếng Latinh là “Adaptacia”, gốc tiếng Anh là “Adaptation”. Khi dịch sang tiếng Việt, thì có thể dịch là “thích nghi”, có người dịch là “thích ứng”.
Đồng thời, cho đến nay nội hàm của khái niệm “thích ứng” vẫn chưa được thống nhất. Trong mỗi nghiên cứu của các tác giả khác nhau thì đưa ra khái niệm thích ứng dưới góc độ khác nhau. Trong “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê (chủ biên) của nhà xuất bản Khoa học Xã hội viết: “thích nghi là có những biến đổi nhất định cho phù hợp với hoàn cảnh, môi trường mới, thích nghi với các nếp sinh hoạt mới”, còn “thích ứng là những thay đổi cho phù hợp với các điều kiện mới, yêu cầu mới, lối làm việc thích ứng với tình hình mới (như thích nghi)”. Trong “Đại từ điển Tiếng Việt” (Nguyễn Như Ý chủ biên) thì khái niệm “thích nghi là quen dần, phù hợp với điều kiện mới nhờ sự biến đổi, điều chỉnh nhất định”, “còn thích ứng là phù hợp với điều kiện mới nhờ những thay đổi, điều chỉnh nhất định”.
Trong “Từ điển tâm lý” của Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em do Nguyễn Khắc Viện chủ biên, đã phân biệt thích ứng và thích nghi như sau: “Mọi sinh vật sống được trong một môi trường có nhiều biến động, bằng cách thay đổi phản ứng của bản thân, hoặc tìm cách thay đổi môi trường, bước đầu là điều chỉnh những phản ứng sinh lý như thích nghi với nhiệt độ cao hay thấp, môi trường khô hay ẩm.sau đó là thay đổi cách ứng xử, đây là thích nghi tâm lý”. Trần Thị Minh Đức, “Thích ứng là một quá trình hoà nhập tích cực với hoàn cảnh có vấn đề, qua đó cá nhân đạt được sự trưởng thành về mặt tâm lý”. Hoà nhập tích cực: là sự chủ động thay đổi bản thân và cải tạo hoàn cảnh trong sự hài hoà nhất định. Cá nhân phát hiện vấn đề, phân tích vấn đề, liên hệ kinh nghiệm bản thân và tìm cách thay đổi bản thân, cải tạo hoàn cảnh cho phù hợp với bản thân.
Hoàn cảnh có vấn đề: Tình huống, sự kiện xuất hiện không nằm trong kinh nghiệm của cá nhân có ảnh hưởng đến cuộc sống của cá nhân, buộc cá nhân phải huy động tiềm năng của bản thân để giải quyết chúng. Sự trưởng thành về mặt tâm lý xã hội: là sự thoải mái bên trong của mỗi cá nhân, sự phát triển hài hoà và làm chủ trong các mối quan hệ xã hội. Thích nghi và thích ứng là hai khái niệm chưa hoàn toàn thống nhất. 3 Sáng kiến kinh ngiệm Một số giải pháp hỗ trợ học sinh thích ứng với môi trường nội trú tại trường PT DTNT THPT Số 2 Nghệ An “Thích nghi” là một trong những phạm trù cơ bản của sinh vật học do S.
Đác- uyn đưa ra dùng để chỉ các quá trình biến đổi về cấu trúc và chức năng của cơ thể sinh vật để duy trì sự cân bằng của quan hệ cơ thể - môi trường trong điều kiện môi trường thay đổi. Sự thích nghi theo nghĩa này được diễn ra theo cơ chế di truyền, biến dị và chọn lọc tự nhiên. Quan điểm này là điểm xuất phát của các nhà tâm lý học tư sản nhấn mạnh mặt thích nghi của cơ thể với môi trường. Trong khi đó các nhà tâm lý học nhân văn đã đề cao thích ứng ở người như một phẩm chất nhân cách: tự khẳng định, tự thể hiện và tự ý thức.
Thích ứng (thích ứng tâm lý) là một quá trình con người luôn tích cực, chủ động lĩnh hội các điều kiện, các yêu cầu, phương thức mới của hoạt động nhằm đạt được mục đích của hoạt động đã đề ra. Thông qua đó, chủ thể thu nhận được những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới để đạt hiệu quả cao trong hoạt động và hoàn thiện về mặt nhân cách, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội. Kỹ năng thích ứng Kỹ năng thích ứng có thể hiểu là khả năng vận dụng tri thức, kinh nghiệm nhằm điều chỉnh nội dung, phương thức hoạt động và giao tiếp của bản thân cho phù hợp với điều kiện môi trường sống để tồn tại và phát triển. Các tiêu chí đánh giá sự thích ứng của học sinh trung học phổ thông với môi trường nội trú * Hòa nhập xã hội: Đánh giá mức độ hòa nhập xã hội của học sinh trong cộng đồng nội trú.
Các chỉ số có thể bao gồm việc tham gia vào các hoạt động xã hội, tương tác tích cực với bạn bè, giáo viên, công nhân viên trong nhà trường và mọi người xung quanh. * Đạt được mục tiêu học tập: Đánh giá khả năng của học sinh đạt được mục tiêu học tập trong môi trường nội trú. Có thể bao gồm việc hoàn thành bài tập, tham gia lớp học và các hoạt động ngoại khóa, đạt điểm số cao trong các bài kiểm tra và kỳ thi, và thể hiện sự tiến bộ trong việc học tập. * Quản lý thời gian và tự quản lý: Đánh giá khả năng của học sinh quản lý thời gian và tự quản lý trong môi trường nội trú.
Có thể bao gồm việc hoàn thành bài tập đúng hạn, tham gia vào các hoạt động ngoại khóa mà không ảnh hưởng đến hiệu suất học tập, và thể hiện sự tự chủ trong việc tổ chức và lập kế hoạch cho các hoạt động hàng ngày. * Xử lý stress và thách thức: Đánh giá khả năng của học sinh xử lý stress và thách thức trong môi trường nội trú. Có thể bao gồm việc thể hiện sự kiên nhẫn và kiên trì khi đối mặt với khó khăn học tập hoặc vấn đề xã hội, tìm kiếm hỗ trợ từ giáo viên và nhân viên, và sử dụng các kỹ năng giải quyết vấn đề để vượt qua các thách thức. 4 Sáng kiến kinh ngiệm Một số giải pháp hỗ trợ học sinh thích ứng với môi trường nội trú tại trường PT DTNT THPT Số 2 Nghệ An * Tương tác xã hội và giao tiếp: Đánh giá khả năng của học sinh tương tác xã hội và giao tiếp trong môi trường nội trú.
Bao gồm việc thể hiện kỹ năng giao tiếp hiệu quả, xử lý xung đột một cách tích cực, và thể hiện sự tôn trọng và sự chấp nhận đối với môi trường đa dạng các dân tộc khác nhau. Những tiêu chí trên cung cấp một cách nhìn tổng quan về sự thích ứng của học sinh với môi trường nội trú và có thể hỗ trợ trong việc đánh giá thực trạng của học sinh trường PT DTNT THPT số 2 Nghệ An cũng như đánh giá hiệu quả của đề tài sáng kiến kinh nghiệm này. Các nội dung khảo sát Trong quá trình học tập ở trường trường, Kỹ năng thích ứng (KN TƯ) với môi trường học tập (MTHT) của HS có thể chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau. Trong phạm vi sáng kiến, chúng tôi chỉ tập trung làm rõ một số yếu tố cơ bản có ảnh hưởng đến KN này.
Thứ nhất là nhà trường. Một trong những mục tiêu đào tạo của trường là dạy KN cho HS. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, thường xuyên đổi mới hình thức tổ chức dạy và học, linh hoạt trong giảng dạy, vận dụng sáng tạo các phương pháp dạy học thể hiện sự tương tác giữa thầy và trò. đã giúp HS nhanh chóng hòa nhập và TƯ với MTHT mới.
Thứ hai là đội ngũ cán bộ, giáo viên. Cán bộ, giáo viên là người trực tiếp ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển các KN cho HS thông qua việc quản lý, tổ chức dạy và học. Ở trường DTNT, cán bộ, giáo viên không chỉ đóng vai trò là người thầy mà còn là người học tập và lao động cùng HS. Do vậy, sự quan tâm, hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của họ là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến KN TƯ của HS nội trú.
Thứ ba là bản thân HS với MTHT mới. HS xác định được động cơ học tập, rèn luyện đúng đắn, từ đó hình thành động lực thúc đẩy tìm kiếm thông tin, giải pháp nhằm hoàn thiện bản thân đáp ứng các yêu cầu của chương trình đào tạo. Không có động cơ học tập, rèn luyện đúng đắn, HS sẽ không hình thành động lực TƯ và theo đó, các KN TƯ cũng khó mà được rèn luyện, trau dồi. Ngoài ra, HS phải ý thức làm chủ bản thân trong quá trình học tập, rèn luyện, năng động sáng tạo, linh hoạt và TƯ nhanh chóng với MTHT mới, hình thành các KN sống (chăm sóc bản thân, giao tiếp, hoạt động nhóm, tự học, tự nghiên cứu.), có năng lực tìm kiếm và xử lý thông tin, chịu trách nhiệm với hoạt động của mình.
Đây là những yếu tố góp phần hình thành KN TƯ với MTHT của HS. Thứ tư là gia đình. Có thể thấy rằng, KN TƯ không phải mới bắt đầu hình thành khi HS bước chân vào trường PT DTNT mà đã được hình thành rất sớm trong môi trường gia đình. Vì vậy, một số HS trước khi vào trường đã có khả năng TƯ rất tốt do được bồi dưỡng ngay khi còn ở gia đình.
5 Sáng kiến kinh ngiệm Một số giải pháp hỗ trợ học sinh thích ứng với môi trường nội trú tại trường PT DTNT THPT Số 2 Nghệ An Để đánh giá đúng thực trạng cũng như cơ sở để đề ra các giải pháp giúp HS thích ứng với môi trường Nội trú, nhóm tác giả chúng tôi khảo sát 210 em học sinh khối 10 – Năm học 2023-2024 để tìm hiểu một số nội dung liên quan đến sự hiểu biết của HS về vấn đề này như sau: 1. Đánh giá của học sinh về vai trò của kỹ năng thích ứng với môi trường học tập nội trú. Để tìm hiểu về đánh giá của học sinh với vai trò của KN TƯ với MTHT, chúng tôi đề nghị HS cho ý kiến ở 05 mức độ, thể hiện bằng biểu đồ sau: Kết quả khảo sát cho thấy, đa số HS đánh giá cao vai trò quan trọng của KN TƯ với MTHT nội trú (154 HS chọn mức rất quan trọng và quan trọng chiếm 73%). HS nhận thức được việc cần thiết phải có KN TƯ mỗi khi phải thay đổi môi trường sống, học tập, rèn luyện.
Nếu thiếu KN TƯ, con người sẽ phải mò mẫm từng bước trong quá trình TƯ, thậm chí có khi không TƯ được dẫn tới bị chọn lọc và đào thải. Tuy nhiên, một số ít HS vẫn chọn mức độ bình thường chiếm 16% và rất ít HS cho rằng KN TƯ với MTHT không quan trọng chiếm tỷ lệ 5%.