Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận, phương pháp và khái quát địa bàn nghiên cứu (tr. 5-43) Chương 2: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi hoạt động sinh kế của cư dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng (tr. 55-72) Chương 3: Cấu trúc sinh kế thích ứng của cư dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng (tr. 73-104) Chương 4: Khả năng thích ứng và gợi ý một số động thái gia tăng khả năng thích ứng trong sinh kế của cư dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng (tr.
4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHƢƠNG PHÁP VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài Liên quan đến đề tài “Sinh kế thích ứng của cư dân TĐC ở thành phố Đà Nẵng trong quá trình CNH, HĐH”, NCS tiếp cận tình hình nghiên cứu qua hai nhóm cơ bản. Nhóm thứ nhất là những nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh kế và TĐC; Nhóm thứ hai là những nghiên cứu về sinh kế thích ứng. Mặc dù cách phân chia này chưa hẳn rạch ròi bởi một số công trình, bài viết… của nhóm thứ nhất đã hàm chứa nội dung của một số công trình, bài viết… của nhóm thứ hai và ngược lại, tuy nhiên về cơ bản, nội dung chính được chuyển tải trong các công trình, bài viết đó vẫn chủ yếu thiên về nhóm được phân loại.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nhóm nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh kế và TĐC Mối quan hệ giữa sinh kế và TĐC là chủ đề thu hút khá nhiều sự quan tâm của các học giả, nhà nghiên cứu trên thế giới, trong đó có thể kể đến một số hướng tiếp cận nghiên cứu chủ yếu sau: Hướng nghiên cứu chú trọng những yếu tố thay đổi sau TĐC, xác định những thay đổi có nguyên nhân từ việc TĐC và chỉ ra cách mà người dân địa phương giải quyết sự thay đổi đó của Maruyama (2003); Hướng nghiên cứu, đánh giá tác động của TĐC đến sinh kế và dân số của Bisrat Worku (2011); Hướng nghiên cứu về tác động của TĐC đến sinh kế và an ninh lương thực, nguồn vốn thiên nhiên, chú ý đến sự tác động gián tiếp đối với người dân bản địa sống lâu đời trên vùng đất được bố trí TĐC của Moti Jaleta (2011). Maruyama [73] (2003) trong bài viết The impacts of resettlement on livelihood and social relationships among the central Kalahari San đã đánh giá những thay đổi về sinh kế trước và sau TĐC của người Gui và Gana San ở Central Kalahari Game Reserve của chính phủ Botswana. Bên cạnh đó, do sau khi phân bố ban đầu các lô đất ở, một số người San vẫn ở lại trong khi những người khác chuyển 5 ra khỏi khu TĐC, vì vậy, bài viết còn phân tích các mối quan hệ bên trong và bên ngoài khu TĐC.
Từ đó, tác giả thể hiện sự nhìn nhận khá thấu đáo về tác động của việc di dời và TĐC đến sinh kế và các mối quan hệ xã hội của người dân [71]. Bisrat Worku [88] nghiên cứu về TĐC ở Abobo Woreda. Bisrat Worku (2011) trong bài viết Impact of resettlement on the livelihood of settler population in Abobo Woreda, Gambella people’s regional state đã tiến hành phân tích các nguồn vốn của người dân TĐC và chiến lược sinh kế của họ, phân tích những cú sốc và những thách thức khi thực hiện chương trình TĐC. Điều đáng chú ý là tác giả đã chỉ ra các đặc điểm cá nhân và tài sản sinh kế có mối quan hệ chặt chẽ với sinh kế sau TĐC.
Nghiên cứu này cũng cho thấy có sự khác biệt rất lớn về sinh kế sau TĐC tùy vào quy mô hộ gia đình và quy mô đất nông nghiệp. Đây là cơ sở để tác giả, ngoài những kiến nghị chung về giáo dục, môi trường, quản lý thiên nhiên, phát huy các nguồn năng lượng thay thế, cung cấp tiếp cận tín dụng,., đã có đề xuất mang tính đặc thù là hạn chế quy mô hộ gia đình, để đảm bảo sinh kế cho người dân sau TĐC. Moti Jaleta và cộng sự (2011) trong nghiên cứu Impact of resettlement on the livelihood, food security and natural resource utilization in Ethiopia [69] đã đánh giá các tác động của TĐC đến sinh kế, an ninh lương thực và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nghiên. Việc TĐC vào giữa những năm 1980 mang mục đích giảm bớt áp lực về dân số đồng thời đưa người dân ra khỏi rừng, đồn điền trên sườn đồi.
Trên thực tế, việc TĐC có rất ít tác động đến việc giảm bớt áp lực về tái tạo tài nguyên thiên nhiên nhưng thay vào đó lại dẫn đến xung đột với cư dân địa phương trong các khu TĐC. Nghiên cứu đặt ra vấn đề là việc TĐC đang dẫn đến tình trạng đòi hỏi sự chia sẻ tài nguyên giữa người định cư và cộng đồng tiếp nhận, nên đã gây ra một số chi phí xã hội, dẫn đến mối quan hệ căng thẳng trong vùng. Như vậy, TĐC đã tác động đến tổ chức và thể chế trong quản lý tài nguyên thiên nhiên cũng như thể chế xã hội và chiến lược sinh kế. Dubale và Tekalign Gunjefo (2010) trong bài viết The impact of rural resettlement on livelihoods: a case of Isara resettlement site in Dawuro, Ethiopia [95] đã phân tích các tác động của TĐC đến sinh kế của cộng đồng tại Isara, trả lời câu hỏi về việc liệu TĐC có những tác động như thế nào, trên phương diện gì, mức độ ra sao đối với cộng đồng TĐC.
Qua đó, nhóm tác giả đã khẳng định những tác 6 động tiêu cực của TĐC đến sinh kế của không chỉ của người TĐC mà còn của người bản địa. Hơn nữa, số lượng người dân ngày càng tăng cũng đã làm gia tăng tình trạng phá rừng và các nguồn tài nguyên có sẵn, gây mất cân bằng sinh thái. Như vậy, những nghiên cứu này thông qua dữ liệu sơ cấp và thứ cấp đã đánh giá được tác động của TĐC đến cả sinh kế lẫn các mối quan hệ xã hội của cộng đồng TĐC. Các nghiên cứu nhận định, đa phần sau TĐC đời sống người dân trở nên thấp hơn, họ phải rất chật vật trong sinh kế của mình, để từ đó đưa ra nhiều giải pháp thiết thực.
Tuy nhiên, những công trình này không đi theo hướng mô tả các hoạt động sinh kế thích ứng của người dân TĐC nên chưa xác định được trước hoàn cảnh mới, người dân TĐC đã có sinh kế thích ứng gì và xu hướng phát triển của chúng như thế nào. Nhóm nghiên cứu về sinh kế thích ứng Nghiên cứu về sinh kế thích ứng được thực hiện ở nhiều châu lục trên thế giới, ở châu Á [85], châu Âu [77], châu Phi [72] và Mỹ [82],. trong đó phần lớn tập trung nghiên cứu về thích ứng trước biến đổi khí hậu. Về sinh kế thích ứng do CNH, HĐH, có thể kể đến một số nghiên cứu của các tác giả như Mihret Jember Bahry (2010), Sinavong Phonevilay (2013), Ryo Fujikura và Mikiyasu Nakayama (2019).
Mihret Jember Bahry (2010) trong nghiên cứu Resettlement, household vulnerability, livelihood adaptation and opportunities in Ethiopia: a case study of the Metema resettlement area [58] viết về ba vùng đất TĐC ở Metela cho rằng sau TĐC, hầu hết các hộ gia đình đều đã cải thiện sinh kế của mình. Tuy nhiên những cải thiện này có vẻ không mang lại lợi ích bền vững do có quá nhiều nhân tố cản trở quá trình thích ứng, mà theo tác giả, quan trọng nhất là do thiên tai và do đặc điểm của từng hộ gia đình. Tiếp cận vấn đề sinh kế thích ứng ở góc độ rộng hơn, Sinavong Phonevilay (2013) trong bài viết Peoples livelihood adaptation in rural resettlement projects in Laos" [75] đã mô tả thực trạng sinh kế thích ứng của hộ gia đình ở 3 cộng đồng Pao, Hmong, Phong (vùng Trung Lào) bị ảnh hưởng bởi các dự án thủy điện, trên 5 khía cạnh là vật chất, thiên nhiên, con người, kinh tế, xã hội. Trên cơ sở đánh giá 5 khía cạnh của sự thích ứng sinh kế trong từng dân tộc, tác giả nhận định rằng sự thích ứng xã hội là mức thấp nhất, thích ứng vật chất là mức cao nhất, từ đó kết luận rằng khía cạnh xã hội của sự thích ứng sinh kế là một trong những khó khăn lớn nhất đối với con người.
7 Ryo Fujikura và Mikiyasu Nakayama (2019) trong bài viết Overview: livelihood re-establishment after resettlement due to dam construction thông qua nghiên cứu ở Indonesia, Nhật Bản và Sri Lanka đã đánh giá những ảnh hưởng của đến việc tái lập sinh kế của người dân. Để thực hiện mục đích này, nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu trên các vấn đề bao gồm tác động lâu dài của TĐC đối với tái lập sinh kế, TĐC từ vùng nông thôn với nền kinh tế dựa vào nông nghiệp và lâm nghiệp đến thành phố, các vấn đề về giới liên quan đến TĐC và tái lập sinh kế. Ngoài ra, các tác giả thể hiện lưu ý rằng việc xây dựng đập không chỉ có tác động đến những người TĐC mà còn ảnh hưởng đến những người không thuộc diện TĐC. Đặc biệt, đối với trường hợp Sri Lanka, bài viết nhấn mạnh đến yếu tố giới.
Nghiên cứu này chỉ ra nhiều lý do dẫn đến khó khăn cho phụ nữ, có thể kể đến gồm: (1) Phụ nữ bị mất cụm nhà gồm nhiều gia đình hạt nhân, hỗ trợ và chia sẻ gánh nặng của các nhiệm vụ như làm việc nhà, (2) Người mất hệ thống lao động trao đổi qua lại truyền thống và họ không thể giúp đỡ lẫn nhau do sự khác biệt về đẳng cấp và nguồn gốc khác nhau, (3) Một kiểu hôn nhân mà người chồng sống trong nhà vợ bị bỏ rơi và phụ nữ mất đi sự hỗ trợ từ gia đình, (4) Thiếu đất chung khiến phụ nữ mất quyền tiếp cận đất đó để tạo thu nhập, (5) Phụ nữ không thể tham gia các chương trình đào tạo TĐC và hoạt động xã hội vì công việc gia đình và (6) Phụ nữ ít ảnh hưởng đến quyết định chế tạo liên quan đến sản xuất trang trại, tiếp thị và ngân sách gia đình [67]. Đối với trường hợp Indonesia, bài viết lại nhấn mạnh yếu tố việc làm. Nghiên cứu ở Indonesia cho thấy, sau TĐC hoạt động sinh kế, việc làm trong thế hệ thứ hai kể từ khi TĐC đa dạng hơn so với thế hệ thứ nhất, nguyên nhân được xác định là thế hệ thứ hai có trình độ giáo dục cao hơn so với thế hệ thứ nhất [67]. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 1.