Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ mang tên "Sinh kế thích ứng của cư dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa" thuộc chuyên ngành Dân tộc học (Nhân học). Công trình tiếp cận vấn đề biến đổi đời sống xã hội dưới tác động của các chính sách phát triển đô thị, thu hồi đất đai và di chuyển dân cư tại địa bàn đô thị loại đặc thù của miền Trung Việt Nam.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Thành phố Đà Nẵng giữ vai trò đầu tàu trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, nằm ở đầu mối giao thông đường bộ, đường biển, đường hàng không, đường sắt và là cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên qua Quốc lộ 14B cũng như các nước tiểu vùng sông Mê Kông qua tuyến Hành lang kinh tế Đông - Tây. Sau khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương năm 1997, thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 16/10/2003 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và Chương trình hành động số 16-CTr/TU ngày 19/11/2003 của Thành ủy Đà Nẵng, thành phố đã triển khai hàng loạt dự án giải tỏa, di dời và tái định cư (TĐC) quy mô lớn.

Quá trình này làm biến đổi không gian sinh thái, phân bố lại lực lượng lao động, thay đổi cơ sở hạ tầng, tạo ra sự phân hóa xã hội và hình thành nhóm cư dân bản địa mới: cư dân TĐC. Đứng trước sự biến động chỗ ở và mất đất tư liệu sản xuất, mỗi cá nhân và cộng đồng TĐC buộc phải có các hành vi thích ứng nhằm tìm kiếm, duy trì hoạt động tạo thu nhập.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ phương diện lý luận và thực tiễn:

  • Về mặt lý luận: Mặc dù lý thuyết sinh kế và lý thuyết thích ứng đã được phát triển trong nhiều thập kỷ, khái niệm kép "sinh kế thích ứng" vẫn chưa thu hút được sự quan tâm nghiên cứu tương xứng; cách hiểu về thuật ngữ này còn phân tán, thiếu đồng nhất và thiếu vắng các khung phân tích hoàn chỉnh.
  • Về mặt thực tiễn: Việc vận dụng lý thuyết sinh kế thích ứng vào đối tượng cư dân TĐC tại một đô thị cụ thể đang trong quá trình chuyển đổi nhanh như Đà Nẵng vẫn còn bị bỏ ngỏ. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào điều tra xã hội học về thực trạng khó khăn đời sống hoặc thích ứng với biến đổi khí hậu, chưa làm rõ bản chất quá trình, cấu trúc và khả năng thích ứng sinh kế của cộng đồng TĐC đô thị.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích tổng quát của luận án là từ kết quả nghiên cứu dân tộc học, xem xét quá trình biến đổi các hoạt động sinh kế từ trước đến sau tái định cư; mô tả, phân tích cấu trúc sinh kế thích ứng; đánh giá khả năng thích ứng về sinh kế của cư dân TĐC; từ đó cung cấp căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm gợi mở các động thái gia tăng khả năng thích ứng sinh kế cho người dân TĐC tại thành phố Đà Nẵng.

Luận án xác lập 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa lý thuyết về sinh kế và thích ứng.
  2. Đánh giá quá trình CNH, HĐH, TĐC và chuyển đổi hoạt động sinh kế của cư dân TĐC ở thành phố Đà Nẵng.
  3. Phân tích cấu trúc sinh kế thích ứng của cư dân TĐC ở thành phố Đà Nẵng.
  4. Nhận định khả năng thích ứng và gợi mở một số động thái gia tăng khả năng thích ứng trong sinh kế cho người dân TĐC ở thành phố Đà Nẵng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sinh kế thích ứng của cư dân TĐC ở thành phố Đà Nẵng, được cụ thể hóa qua hai nội dung thành phần: (1) các nguồn vốn sinh kế của cư dân TĐC, và (2) các hoạt động sinh kế của cư dân TĐC.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn các khu TĐC thuộc 7 quận, huyện của thành phố Đà Nẵng bao gồm quận Hải Châu, quận Thanh Khê, quận Sơn Trà, quận Cẩm Lệ, quận Ngũ Hành Sơn, quận Liên Chiểu và huyện Hòa Vang. Riêng huyện đảo Hoàng Sa không thuộc phạm vi khảo sát do mang tính chất đặc thù và chưa diễn ra quá trình giải tỏa, TĐC.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát tiến trình biến đổi từ năm 1997 (thời điểm Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, bắt đầu công cuộc đô thị hóa mạnh mẽ) đến năm 2020 (thời điểm hoàn thành các mốc kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và 10 năm của địa phương).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu được luận án tổng thuật qua hai nhóm chủ đề chính ở phạm vi quốc tế và trong nước:

Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Nhóm nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh kế và TĐC:

  • Maruyama (2003) nghiên cứu cộng đồng người Gui và Gana San tại Khu bảo tồn Central Kalahari (Botswana), đánh giá những thay đổi về sinh kế và mạng lưới quan hệ xã hội trong và ngoài khu TĐC.
  • Bisrat Worku (2011) khảo sát vùng Abobo Woreda, Gambella (Ethiopia), phân tích các nguồn vốn, cú sốc và chiến lược sinh kế, chứng minh sinh kế sau TĐC phụ thuộc chặt chẽ vào quy mô hộ và diện tích đất sản xuất nông nghiệp.
  • Moti Jaleta và cộng sự (2011) nghiên cứu tại Ethiopia, nhấn mạnh việc TĐC làm gia tăng cạnh tranh tài nguyên thiên nhiên, dẫn tới xung đột giữa người TĐC và cộng đồng sở tại, làm biến đổi thể chế quản lý tài nguyên.
  • Dubale và Tekalign Gunjefo (2010) khảo sát tại Isara, Dawuro (Ethiopia), khẳng định các tác động tiêu cực của TĐC nông thôn đến cả sinh kế người di dời và cư dân bản địa, đồng thời chỉ ra hiện tượng suy thoái rừng do gia tăng mật độ dân số.

Nhóm nghiên cứu về sinh kế thích ứng:

  • Mihret Jember Bahry (2010) khảo sát ba vùng TĐC tại Metema (Ethiopia), nhận định sự cải thiện sinh kế của các hộ gia đình thiếu tính bền vững do rủi ro thiên tai và hạn chế nội tại của hộ.
  • Sinavong Phonevilay (2013) nghiên cứu 3 cộng đồng dân tộc Pao, Hmong, Phong tại Lào chịu ảnh hưởng bởi thủy điện; đánh giá thích ứng trên 5 khía cạnh (vật chất, thiên nhiên, con người, kinh tế, xã hội), kết luận thích ứng xã hội đạt mức thấp nhất và là khó khăn lớn nhất.
  • Ryo Fujikura và Mikiyasu Nakayama (2019) nghiên cứu TĐC do xây đập tại Indonesia, Nhật Bản, Sri Lanka; ghi nhận tại Sri Lanka phụ nữ gặp bất lợi lớn do mất mạng lưới họ hàng hỗ trợ, mất đất công; trong khi tại Indonesia, thế hệ TĐC thứ hai có sinh kế đa dạng hơn nhờ trình độ học vấn cao hơn thế hệ thứ nhất.

Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Nhóm nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh kế và TĐC:

  • Khu vực đô thị: Lê Văn Thành (2010) tại TP. Hồ Chí Minh so sánh nhóm nhận căn hộ chung cư (chịu chi phí dịch vụ cao) và nhóm nhận đất nền (khó khăn về chi phí xây dựng, xa nơi làm ăn); Phan Huy Xu nghiên cứu thực trạng đời sống xã hội người TĐC tại TP. Hồ Chí Minh; Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế Xã hội Đà Nẵng (2012) khảo sát các nguồn vốn sinh kế gắn với chương trình "5 không 3 có"; Trần Văn Thận, Trần Văn Phương và cộng sự (2014) đánh giá 5 lĩnh vực đời sống (việc làm, thu nhập, nhà ở, giáo dục - dạy nghề, môi trường sống).
  • Khu vực nông thôn và ven đô: Lê Du Phong (2007) khảo sát vấn đề thu hồi đất cho khu công nghiệp; Nguyễn Văn Sửu (2008, 2014) nghiên cứu làng ven đô Phú Điền (Hà Nội), chỉ ra sự chuyển đổi sang các sinh kế mới như cho thuê nhà trọ, buôn bán nhỏ khi mất đất nông nghiệp; Nguyễn Đức Hữu (2015) nghiên cứu nông dân mất đất tại Hải Dương; Nguyễn Thị Diễn, Vũ Đình Tôn (2012) tại Hưng Yên nêu thực tế chỉ 16% lao động tìm được việc làm trong nhà máy; Nguyễn Văn Tạo (2016) nghiên cứu chuyển dịch sinh kế tại Gia Lộc (Hải Dương); Trần Đức Sáng (2016) phân tích quản lý xã hội tại các khu TĐC Quảng Nam và Thừa Thiên Huế; Nguyễn Hồng Ban (2014) nghiên cứu 90 hộ TĐC dự án Formosa (Hà Tĩnh); Nguyễn Thị Tám (2016) khảo sát cư dân làng chài ven Sông Lô (Tuyên Quang, Phú Thọ). Các công trình của Ngô Hữu Hoạnh (Hội An), Nguyễn Dũng Anh (2014, Đà Nẵng), Lưu Song Hà (2008) cũng phân tích việc làm và tâm trạng người bị thu hồi đất.
  • Khu vực miền núi và công trình thủy điện: Trần Đức Viên, Nguyễn Vinh Quang, Mai Văn Thành (Sơn La, Nghệ An); Bảo Huy và cộng sự (2005, Tây Nguyên); Nguyễn Văn Toàn, Trương Tấn Quân, Trần Văn Quảng (2012, Hướng Hóa, Quảng Trị); Trần Hồng Hạnh (2018, Tây Bắc); Phạm Trọng Lượng (2019) nghiên cứu người M'nông tại thủy điện Buôn Tua Srah (Đắk Lắk); các nghiên cứu TĐC thủy điện Sơn La của Lê Thạc Cán, Phạm Quang Hoan, Nguyễn Văn Hồng, Dương Thị Như Quỳnh; TĐC thủy điện tại Huế của Lê Thị Nguyện, Phạm Thị Bích Thủy.

Nhóm nghiên cứu về sinh kế thích ứng tại Việt Nam:

  • Nguyễn Gia Đôi, Nguyễn Anh Tuấn, Lê Hải Đăng (2012) phân tích sự thích ứng sinh kế của cư dân tiền sử tại Tràng An trước biến đổi môi trường.
  • Tổ chức Oxfam (2008) nghiên cứu thích ứng với lũ lụt, thiên tai tại Bến Tre và Quảng Trị.
  • Hoàng Ngọc Tường Vân (2013) nghiên cứu mô hình sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu vùng trũng Thừa Thiên Huế (trồng rau, nuôi thủy sản vượt lũ).
  • Ngô Thị Phương Lan (2014) phân tích hành vi chuyển dịch từ trồng lúa sang nuôi tôm của nông dân Đồng bằng sông Cửu Long như một chiến lược thích ứng rủi ro và khai thác vốn xã hội.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả đúc kết: phần lớn các nghiên cứu trong nước tiếp cận theo hướng xã hội học hoặc kinh tế phát triển, chỉ phản ánh thực trạng đời sống hậu TĐC hoặc tập trung vào sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu tự nhiên ở nông thôn, miền núi. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống:

  1. Xây dựng cơ sở lý luận chuyên biệt về khái niệm và cấu trúc của "sinh kế thích ứng".
  2. Khảo sát toàn diện tiến trình, cấu trúc nguồn vốn và hoạt động sinh kế thích ứng của cư dân TĐC đô thị dưới tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Đà Nẵng từ góc độ Dân tộc học/Nhân học.
  3. Nhận diện các rào cản và gợi mở hệ thống giải pháp nâng cao khả năng thích ứng sinh kế cho cộng đồng cư dân TĐC đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng kết hợp 3 hệ thống lý thuyết nền tảng:

  • Lý thuyết sinh kế: Kế thừa định nghĩa và Khung sinh kế bền vững của Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID, 2001), Chambers và Conway (1992), Ian Scoones (1998), Koos Neefjes (2009). Sinh kế được hiểu là các hoạt động cần thiết dựa trên năng lực và 5 nguồn vốn: (1) Vốn con người (quy mô hộ, cơ cấu lao động, sức khỏe, học vấn, kỹ năng nghề nghiệp); (2) Vốn tự nhiên (chủ yếu là quyền sử dụng đất đai, nguồn nước, tài nguyên ven biển); (3) Vốn xã hội (mạng lưới gia đình, họ hàng, láng giềng, cơ chế hỗ trợ, tổ chức đoàn thể); (4) Vốn tài chính (thu nhập thường xuyên, tiền tiết kiệm, tiền bồi thường, khả năng tiếp cận tín dụng); (5) Vốn vật chất (nhà ở, trang thiết bị sản xuất, kết cấu hạ tầng kỹ thuật và công trình công cộng). Vận dụng phân loại chiến lược sinh kế của P. Seppala gồm chiến lược tích lũy, tái sản xuất và sinh tồn (chiến lược sinh tồn là biểu hiện của thích ứng ngắn hạn).
  • Lý thuyết thích ứng: Khảo cứu quan điểm sinh học xã hội của Herbert Spencer (đấu tranh sinh tồn và thích ứng với môi trường xã hội), quan điểm sinh thái học lịch sử của Merle Calvin Ricklefs, và đặc biệt là phân định của Peter D. Dwyer và Monica Minnegal (2010) giữa "biến đổi dạng thích nghi" (thay đổi phụ thuộc bối cảnh nhưng không làm thay đổi cấu trúc nền tảng) và "biến đổi dạng chuyển đổi" (thay đổi định tính cấu trúc tổng thể). Luận án xác định thích ứng của con người là quá trình chủ động tương tác, điều chỉnh hành vi, xác lập trạng thái cân bằng tương thích với môi trường xã hội mới.
  • Lý thuyết trường, vốn và tập tính của Pierre Bourdieu: Môi trường đô thị hóa và khu TĐC sau giải tỏa được xem là "trường" (field) - không gian xã hội nơi diễn ra các quan hệ tương tác; các nguồn lực sinh kế tương ứng với "vốn" (capital); đặc điểm lịch sử, kinh nghiệm sản xuất, lối sống truyền thống của cư dân địa phương là "tập tính" (habitus). Sự tương tác giữa tập tính cũ và trường mới quy định hành vi lựa chọn sinh kế thích ứng.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, trong đó phương pháp điền dã Dân tộc học giữ vai trò chủ đạo:

  • Quan sát tham dự: Trực tiếp quan sát điều kiện hạ tầng khu TĐC, hoạt động mưu sinh thường nhật, các tương tác cộng đồng.
  • Phỏng vấn sâu (PVS): Phỏng vấn bán cấu trúc các hộ gia đình TĐC, cán bộ cơ sở nhằm thu thập dữ liệu định tính về nhận thức, tâm lý, rào cản chuyển đổi nghề nghiệp, mức độ gắn kết cộng đồng.
  • Thảo luận nhóm tập trung (FGD): Thực hiện 6 cuộc thảo luận nhóm đại diện cho 6 nhóm sinh kế, mỗi nhóm gồm đúng 5 thành viên (1 cán bộ phường, 1 tổ trưởng tổ dân phố, 3 người lao động trong nhóm nghề tương ứng):
    • Nhóm 1 (Nhóm nông ngư): lao động nông nghiệp và ngư nghiệp.
    • Nhóm 2 (Nhóm kỹ thuật và công nhân): lao động kỹ thuật và công nhân nhà máy.
    • Nhóm 3 (Nhóm thủ công và xây dựng): thợ xây dựng, lao động thủ công nghiệp.
    • Nhóm 4 (Nhóm lắp ráp và vận hành): nhân lực vận hành máy móc, lắp ráp thiết bị.
    • Nhóm 5 (Nhóm dịch vụ): người buôn bán nhỏ, cung cấp dịch vụ đô thị.
    • Nhóm 6 (Nhóm giản đơn): người làm các công việc lao động giản đơn. Các công cụ tham gia được áp dụng trong thảo luận nhóm gồm: Ma trận SWOT (phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong sinh kế); Cây vấn đề (phân tích nguyên nhân và hệ quả của tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp sau TĐC); Biểu đồ Venn (đánh giá mức độ quan hệ và vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương).
  • Khảo sát bằng bảng hỏi (KSBBH): Thu thập dữ liệu định lượng về nhân khẩu học, số lao động, trình độ học vấn, kỹ năng nghề, cơ cấu thu nhập, nguồn vốn sinh kế và dữ liệu thang đo định tính về hạ tầng, an ninh, quan hệ láng giềng.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh nguồn tin thứ cấp (tư liệu thành văn, số liệu thống kê) với sơ cấp (điền dã); so sánh đồng đại giữa 3 không gian đô thị (khu vực lõi đô thị, khu vực đô thị mới, khu vực ven biển); so sánh lịch đại giữa trạng thái sinh kế trước và sau TĐC.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Tư liệu thành văn: Các văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết số 33-NQ/TW và 43-NQ/TW của Bộ Chính trị; các quyết định của Thủ tướng Chính phủ (Quyết định số 1866/QĐ-TTg, Quyết định số 359/QĐ-TTg); niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng, báo cáo sơ kết của Thành ủy, UBND thành phố Đà Nẵng và các công trình khoa học trong, ngoài nước.
  • Tư liệu sơ cấp điền dã: Biên bản phỏng vấn sâu, ghi chép nhật ký điền dã, biên bản 6 cuộc thảo luận nhóm, dữ liệu xử lý từ các phiếu khảo sát bảng hỏi tại các khu TĐC trên địa bàn 7 quận, huyện.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận, phương pháp và khái quát địa bàn nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu lý luận và thực tiễn liên quan đến sinh kế TĐC và sinh kế thích ứng; làm rõ các khái niệm công cụ (sinh kế, sinh kế bền vững, chiến lược sinh kế, nguồn vốn sinh kế, thích ứng, tái định cư, công nghiệp hóa, hiện đại hóa); trình bày khung lý thuyết (DFID, thích ứng sinh học - xã hội, cấu trúc trường - vốn - tập tính của Bourdieu) và thiết kế quy trình phương pháp nghiên cứu điền dã dân tộc học.

Đồng thời, chương này khái quát toàn diện về địa bàn nghiên cứu thành phố Đà Nẵng:

  • Điều kiện tự nhiên: Diện tích tự nhiên toàn thành phố là 1.283,42 km² (nội thành chiếm 241,51 km²). Vị trí tọa độ đất liền từ 15°55' đến 16°14' vĩ độ Bắc, 107°18' đến 108°20' kinh độ Đông; đồi núi chiếm hơn 70% diện tích, độ dốc lớn (khoảng 40°). Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình năm 25,9°C (vùng Bà Nà khoảng 20°C), độ ẩm không khí 83,4%; mạng lưới thủy văn gồm các sông Hàn, Cầu Đỏ, Túy Loan, Yên, Vu Gia, Cu Đê; tài nguyên nước ngầm khai thác tại Hòa Hải - Hòa Quý (sâu 50-60m) và Hòa Khánh (sâu 30-90m).
  • Đặc điểm kinh tế - xã hội: Dân số Đà Nẵng năm 2019 đạt 1.134.310 người (trong đó nam giới chiếm 576.000 người, nữ giới hơn 558.000 người; tốc độ tăng trưởng bình quân 2010-2020 là 2,45%, tăng từ 937.217 người năm 2010). Mật độ dân số đạt 883 người/km² (tính riêng năm 2018 khoảng 814 người/km²); tỷ lệ dân cư thành thị đạt 87,7% năm 2018 (cao hàng đầu cả nước); quy mô hộ bình quân đạt 3,6 người/hộ. Lực lượng lao động tăng từ 299.574 người (năm 1997) lên 547.007 người (năm 2017) và đạt 581.000 người (năm 2019). GRDP giai đoạn 1997-2015 tăng bình quân 9%/năm; năm 2018 quy mô GRDP đạt 62.150 tỷ đồng (gấp 7,5 lần so với năm 1997). Về giáo dục, tỷ lệ biết chữ đạt 97,8% (xếp thứ 7 cả nước); tỷ lệ tốt nghiệp THPT trở lên đạt 20,8% (xếp thứ 3 cả nước); tỷ trọng dân số có trình độ đại học trở lên xếp thứ 2 cả nước. Về y tế, thành phố có 5.402 giường bệnh (đạt 79,2 giường/1.000 dân), tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 96,5%.
Chỉ số kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng Số liệu ghi nhận trong văn bản
Diện tích tự nhiên toàn thành phố 1.283,42 km² (nội thành: 241,51 km²)
Tỷ lệ địa hình đồi núi > 70% (độ dốc trung bình khoảng 40°)
Dân số (Tổng điều tra 2019) 1.134.310 người (Nam: 576.000, Nữ: > 558.000)
Tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn 2010 - 2020 2,45%/năm (từ 937.217 người năm 2010)
Tỷ lệ dân số sống tại khu vực thành thị (năm 2018) 87,7%
Mật độ dân số trung bình 814 người/km² (2018) - 883 người/km² (2019)
Lực lượng lao động 299.574 người (1997) lên 547.007 người (2017)
Tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 1997 - 2015 9,0%/năm (năm 2018 đạt 62.150 tỷ đồng)
Trình độ học vấn dân số từ 15 tuổi trở lên Biết đọc viết: 97,8%; Tốt nghiệp THPT trở lên: 20,8%
Năng lực y tế cơ bản 5.402 giường bệnh (79,2 giường/1.000 dân); BHYT: 96,5%

Chương 2: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển đổi hoạt động sinh kế của cư dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng

Chương 2 tập trung phân tích tiến trình thực hiện đường lối CNH, HĐH và đô thị hóa tại thành phố Đà Nẵng qua các giai đoạn gắn liền với chủ trương của Đảng và Nhà nước (Nghị quyết Đại hội VII, VIII, X, XII, XIII; Nghị quyết số 33-NQ/TW năm 2003, Nghị quyết số 43-NQ/TW năm 2019 của Bộ Chính trị và Quyết định số 359/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ).

Tác giả phân tích không gian đô thị Đà Nẵng biến đổi qua chính sách đất đai và quy hoạch mở rộng:

  • Quy mô giải tỏa và thu hồi đất: Từ năm 1997 đến 2013, thành phố 3 lần lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, triển khai hơn 1.300 dự án, giải tỏa hơn 18.000 ha đất. Giai đoạn từ năm 2005 trở đi thực hiện hơn 1.000 dự án giải tỏa trên 13.000 ha đất; riêng năm 2011 thực hiện 222 dự án. Đô thị hóa làm mất đi gần 1/3 diện tích đất nông nghiệp trong giai đoạn 1997-2017. Cao điểm trong 3 năm 2011-2013, thành phố thu hồi 3.924,06 ha đất nông nghiệp, khiến 25.725 lao động nông nghiệp bị mất việc làm.
  • Điển hình giải tỏa và tái định cư: Điển hình tại quận Sơn Trà với chiến dịch xóa bỏ các khu "nhà chồ" tạm bợ ven sông Hàn để mở đường Bạch Đằng Đông; thu hồi 25 ha đất tại phường An Hải Tây để lập hai khu đô thị mới An Trung và An Mỹ (1.090 lô đất TĐC); giải tỏa xây dựng các khu dân cư An Hải Bắc 1, An Hải Bắc 2 và Phước Mỹ (11 ha, 946 lô đất TĐC). Tại quận Cẩm Lệ, quá trình đô thị hóa chuyển đổi toàn bộ phường thuần nông Hòa Xuân thành đô thị mới với kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ.
  • Chuyển dịch trường sinh kế: Dưới lăng kính lý thuyết Bourdieu, sự chuyển đổi địa bàn cư trú làm đứt gãy "tập tính" sản xuất nông - ngư nghiệp truyền thống. Việc chuyển đổi từ tư liệu sản xuất đất đai, mặt nước sang sở hữu đất ở đô thị hoặc căn hộ buộc cư dân phải rời bỏ nghề trồng lúa, hoa màu, đánh bắt thủy sản ven bờ để chuyển đổi sang các hoạt động kinh tế công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, buôn bán nhỏ hoặc lao động giản đơn.

Chương 3: Cấu trúc sinh kế thích ứng của cư dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng

Chương 3 trình bày cấu trúc sinh kế thích ứng của người dân TĐC Đà Nẵng thông qua mối quan hệ hữu cơ giữa 5 nguồn vốn sinh kế và sự biến đổi trong hành vi mưu sinh:

  • Nguồn vốn tự nhiên suy giảm mạnh: Mất quyền tiếp cận trực tiếp đất sản xuất nông nghiệp, đất bãi bồi ven sông và ngư trường ven biển, tài nguyên tự nhiên không còn đóng vai trò trụ đỡ sinh kế.
  • Nguồn vốn con người bộc lộ rào cản: Mặc dù tỷ lệ biết chữ cao, nhưng lao động TĐC có tuổi đời trung niên trở lên thiếu kỹ năng chuyên môn kỹ thuật hiện đại, khó chuyển đổi vào khu vực công nghiệp công nghệ cao, chủ yếu dựa vào sức lao động giản đơn.
  • Nguồn vốn xã hội có sự tái cấu trúc: Mạng lưới xóm giềng truyền thống bị chia tách do việc bốc thăm phân lô TĐC phân tán; cư dân phải từng bước thích ứng để thiết lập quan hệ láng giềng mới tại khu dân cư đô thị và dựa vào các tổ chức đoàn thể cơ sở (hội phụ nữ, cựu chiến binh, tổ dân phố).
  • Nguồn vốn tài chính: Nhận được tiền bồi thường giải tỏa, song phần lớn được chuyển hóa vào việc xây cất nhà cửa mới; nguồn thu nhập định kỳ từ nông nghiệp mất đi, thay thế bằng thu nhập bấp bênh từ tiền công lao động tự do hoặc tiếp cận các gói tín dụng hỗ trợ việc làm.
  • Nguồn vốn vật chất được cải thiện: Diện mạo nhà ở kiên cố hơn, hệ thống điện chiếu sáng, nước sạch, trường học, trạm y tế, đường giao thông nhựa hóa/bê tông hóa được trang bị đồng bộ hơn nơi ở cũ.
  • Các nhóm hoạt động sinh kế thích ứng hình thành: Luận án phân tích chi tiết sự vận động của 6 nhóm sinh kế chính thích ứng với môi trường đô thị gồm: nông - ngư nghiệp đô thị quy mô nhỏ; công nhân nhà máy và lao động kỹ thuật; thợ xây dựng và nghề thủ công; lắp ráp và vận hành phương tiện cơ giới; buôn bán dịch vụ nhỏ lẻ (tạp hóa, dịch vụ ăn uống tại nhà); và lao động dịch vụ giản đơn (chạy xe, giúp việc, bảo vệ, bốc vác).

Chương 4: Khả năng thích ứng và gợi ý một số động thái gia tăng khả năng thích ứng trong sinh kế của cư dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng

Chương 4 đánh giá tổng hợp khả năng thích ứng của cộng đồng TĐC và đề xuất hệ thống giải pháp:

  • Đánh giá khả năng thích ứng qua công cụ kỹ thuật:
    • Kết quả ma trận SWOT chỉ ra điểm mạnh về sự linh hoạt tìm kiếm việc làm, môi trường sống văn minh; điểm yếu về thiếu vốn đầu tư, trình độ nghề thấp; cơ hội từ du lịch, thương mại dịch vụ đô thị mở rộng; thách thức từ cạnh tranh việc làm đô thị và chi phí sinh hoạt tăng cao.
    • Cây vấn đề xác định tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm hậu TĐC bắt nguồn từ nguyên nhân thiếu định hướng nghề nghiệp, kỹ năng lao động không tương thích với yêu cầu công nghiệp - dịch vụ, cùng sự hạn chế trong phân bổ tiền đền bù.
    • Biểu đồ Venn phản ánh vai trò của chính quyền phường, tổ dân phố, hội phụ nữ, ngân hàng chính sách xã hội có tác động trực tiếp nhất trong việc hỗ trợ cư dân ổn định cuộc sống.
  • Động thái gợi mở nâng cao khả năng thích ứng sinh kế: Đề xuất chính quyền hoàn thiện chính sách đào tạo nghề gắn với nhu cầu tuyển dụng thực tế; phát triển các mô hình kinh tế dịch vụ phù hợp đặc thù người trung niên; nâng cao hiệu quả các nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội; duy trì và củng cố vốn xã hội thông qua các thiết chế văn hóa cộng đồng tại khu dân cư TĐC.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Luận án góp phần bổ sung và hoàn thiện hệ thống lý thuyết về sinh kế, đặc biệt là làm rõ nội hàm, cấu trúc của khái niệm "sinh kế thích ứng" - một vấn đề vốn còn nhiều khoảng trống và tranh luận học thuật.
  • Cung cấp một khung phân tích kết hợp giữa Khung sinh kế bền vững của DFID với lý thuyết xã hội học về "trường, vốn và tập tính" của Pierre Bourdieu và lý thuyết thích ứng, áp dụng hiệu quả vào nghiên cứu dân tộc học đô thị.
  • Bổ sung nguồn tư liệu thực địa điền dã dân tộc học chi tiết, xác thực về đời sống, văn hóa, cấu trúc nguồn vốn và hoạt động sinh kế của cư dân TĐC trong bối cảnh CNH, HĐH tại một đô thị trực thuộc Trung ương của Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị chính sách

  • Cung cấp cơ sở khoa học và bằng chứng thực tiễn cho các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà hoạch định chính sách của thành phố Đà Nẵng trong việc điều chỉnh, hoàn thiện chính sách đền bù, giải tỏa, TĐC và an sinh xã hội.
  • Đề xuất các động thái hỗ trợ sinh kế dựa trên cộng đồng, giúp người dân TĐC nâng cao nhận thức, chủ động huy động các nguồn vốn nội tại nhằm thích ứng hiệu quả với môi trường sống đô thị mới.
  • Luận án đóng vai trò tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy chuyên ngành Dân tộc học, Nhân học, Xã hội học đô thị và Quản lý phát triển xã hội tại các trường đại học, viện nghiên cứu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi không gian: Nghiên cứu chỉ tập trung khảo sát các khu TĐC trên đất liền thuộc 7 quận, huyện của Đà Nẵng; không bao gồm huyện đảo Hoàng Sa do tính chất đặc thù không diễn ra thu hồi đất, TĐC.
  • Hạn chế về khung thời gian: Dữ liệu sơ cấp và thứ cấp của luận án giới hạn trong giai đoạn 1997 - 2020 theo các mốc kế hoạch phát triển 5 năm và 10 năm của địa phương, chưa phản ánh được các biến động kinh tế - xã hội sau năm 2020.
  • Hạn chế về mặt lý thuyết: Khái niệm sinh kế thích ứng vẫn còn là chủ đề phức tạp, các tiêu chí định lượng đo lường mức độ thích ứng phụ thuộc vào mẫu khảo sát đại diện tại chỗ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi dài hạn sự biến đổi sinh kế của các thế hệ TĐC tiếp theo (thế hệ thứ hai, thứ ba) theo định hướng điều chỉnh quy hoạch chung thành phố đến năm 2030, tầm nhìn 2045 được phê duyệt tại Quyết định số 359/QĐ-TTg và Nghị quyết số 43-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Dân tộc học, Nhân học, Xã hội học: Cung cấp phương pháp luận điền dã kết hợp định tính và định lượng, quy trình tổ chức thảo luận nhóm theo nghề nghiệp và cách thức áp dụng lý thuyết Bourdieu vào nghiên cứu biến đổi đô thị.
  • Các nhà quản lý đô thị và người làm chính sách: Cung cấp dữ liệu thực chứng về những tác động tiêu cực của thu hồi đất đối với việc làm của 25.725 lao động nông nghiệp trong giai đoạn 2011-2013, làm cơ sở xây dựng đề án đào tạo nghề, tạo sinh kế bền vững trước khi giải tỏa.
  • Cán bộ chính quyền cơ sở tại các vùng dự án: Tham khảo mô hình điều tra sự tham gia của người dân bằng các công cụ SWOT, Cây vấn đề và Biểu đồ Venn để thấu hiểu nhu cầu của cư dân TĐC.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án giải thích khái niệm "sinh kế thích ứng" dựa trên những lý thuyết cơ bản nào?
Luận án kết hợp 3 lý thuyết: Khung sinh kế bền vững của DFID (tiếp cận qua 5 nguồn vốn: con người, tự nhiên, xã hội, tài chính, vật chất); Lý thuyết thích ứng (phân định biến đổi dạng thích nghi và chuyển đổi của Peter D. Dwyer và Monica Minnegal); Lý thuyết trường, vốn và tập tính của Pierre Bourdieu (xem khu TĐC là trường, các nguồn vốn sinh kế là vốn, và kinh nghiệm sống/sản xuất truyền thống là tập tính).

2. Quy mô thu hồi đất và tác động đến việc làm của lao động nông nghiệp tại Đà Nẵng trong giai đoạn cao điểm được ghi nhận ra sao?
Trong giai đoạn 1997 - 2017, quá trình đô thị hóa làm mất gần 1/3 diện tích đất nông nghiệp của thành phố Đà Nẵng. Trong giai đoạn cao điểm 3 năm 2011 - 2013, thành phố đã thu hồi 3.924,06 ha đất nông nghiệp, dẫn đến việc 25.725 lao động bị mất việc làm.

3. Phương pháp thảo luận nhóm tập trung (FGD) trong nghiên cứu điền dã được triển khai cụ thể như thế nào?
Tác giả tổ chức 6 cuộc thảo luận nhóm đại diện cho 6 nhóm hoạt động sinh kế (nhóm nông ngư, nhóm kỹ thuật và công nhân, nhóm thủ công và xây dựng, nhóm lắp ráp và vận hành, nhóm dịch vụ, nhóm giản đơn). Mỗi nhóm gồm đúng 5 thành viên (1 cán bộ phường, 1 tổ trưởng tổ dân phố, 3 lao động thuộc nhóm nghề). Quá trình thảo luận áp dụng 3 công cụ: Ma trận SWOT, Cây vấn đề và Biểu đồ Venn.

4. Tại sao huyện đảo Hoàng Sa không được đưa vào không gian nghiên cứu của đề tài?
Theo tác giả, huyện đảo Hoàng Sa là đơn vị hành chính mang tính chất đặc thù về vị trí địa lý, chủ quyền biển đảo, và trên thực tế chưa diễn ra quá trình thu hồi đất, giải tỏa và di dời tái định cư dân cư đô thị như 7 quận, huyện đất liền còn lại của thành phố Đà Nẵng.


Kết luận

Luận án của tác giả là một công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Dân tộc học, phản ánh toàn diện bức tranh biến đổi sinh kế của cư dân tái định cư tại thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn đô thị hóa nhanh 1997 - 2020. Thông qua việc tích hợp lý thuyết sinh kế của DFID, lý thuyết thích ứng và lý thuyết cấu trúc trường - vốn - tập tính của Bourdieu cùng hệ phương pháp điền dã thực địa, tác giả đã làm sáng tỏ cấu trúc các nguồn vốn và các hình thức sinh kế thích ứng của người dân sau giải tỏa. Những phát hiện về thực trạng suy giảm vốn tự nhiên, thách thức chuyển đổi nghề nghiệp của lao động nông nghiệp và vai trò của các thiết chế xã hội cơ sở mang lại giá trị thực tiễn cho công tác hoạch định chính sách an sinh xã hội đô thị tại Đà Nẵng.