Sách giáo khoa Ngữ văn 12 tập 2: Phân tích Vợ Chồng A Phủ của Tô Hoài

Chuyên ngành

Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sách giáo khoa

2011

218
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về sách giáo khoa ngữ văn 12 tập 2

Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập 2 là tài liệu học tập chính thức do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, thuộc bộ sách tái bản lần thứ ba. Cuốn sách được biên soạn bởi đội ngũ chuyên gia hàng đầu gồm Trần Đăng Suyền (chủ biên phần Văn), Bùi Minh Toán (chủ biên phần Tiếng Việt) và Lê A (chủ biên phần Làm văn). Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chịu trách nhiệm phát hành. Nội dung sách bao gồm các tác phẩm văn học kinh điển của nền văn học Việt Nam hiện đại, từ truyện ngắn đến tiểu thuyết, từ thơ đến ký. Các tác phẩm được tuyển chọn kỹ lưỡng, đại diện cho nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau của dân tộc. Sách không chỉ cung cấp kiến thức văn học mà còn rèn luyện kỹ năng phân tích, cảm thụ và viết văn cho học sinh lớp 12. Đây là công cụ học tập không thể thiếu trong chương trình giáo dục phổ thông, giúp học sinh chuẩn bị tốt cho kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia.

1.1. Cấu trúc nội dung sách giáo khoa

Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập 2 được xây dựng theo cấu trúc hệ thống, bao gồm nhiều đơn vị bài học xoay quanh các chủ đề lớn. Mỗi đơn vị bài học thường có phần văn bản đọc hiểu, phần tiếng Việt và phần luyện tập làm văn. Các tác phẩm văn học được sắp xếp theo trình tự từ cổ điển đến hiện đại, từ trong nước đến quốc tế. Phần hướng dẫn đọc hiểu giúp học sinh nắm được nội dung và nghệ thuật của từng tác phẩm. Phần luyện tập cung cấp các bài tập thực hành đa dạng, từ câu hỏi nghị luận đến viết đoạn văn hoàn chỉnh. Cuối sách có phần ghi nhớ tổng hợp kiến thức trọng tâm và gợi ý luyện tập nâng cao.

1.2. Đối tượng sử dụng và mục đích

Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập 2 phục vụ chủ yếu cho học sinh lớp 12 trong hệ thống giáo dục phổ thông. Giáo viên sử dụng sách làm tài liệu giảng dạy chính thức trên lớp. Phụ huynh có thể tham khảo sách để hỗ trợ con em trong quá trình học tập tại nhà. Mục đích chính của sách là trang bị kiến thức văn học nền tảng, phát triển tư duy cảm thụ và kỹ năng viết văn nghị luận. Ngoài ra, sách còn giúp học sinh hiểu biết sâu sắc về lịch sử, văn hóa và truyền thống dân tộc thông qua các tác phẩm văn học. Đây cũng là tài liệu ôn tập quan trọng cho các kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng.

II. Các tác phẩm văn học nổi bật trong sách

Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập 2 chứa đựng nhiều tác phẩm văn học kinh điển của Việt Nam. Tác phẩm "Vợ chồng A Phủ" của nhà văn Tô Hoài tái hiện cuộc sống cực nhục của đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao Tây Bắc. Câu chuyện về Mị và A Phủ cho thấy quá trình vùng lên tự giải phóng khỏi ách áp bức của thực dân và chúa đất. Nghệ thuật trần thuật linh hoạt, lời văn tinh tế, giàu chất thơ đậm màu sắc dân tộc. Tác phẩm "Rừng xà nu" của Nguyễn Trung Thành kể về câu chuyện bi tráng của nhân vật Tnú và dân làng Xô Man. Hình ảnh cánh rừng xà nu bạt ngàn trở thành biểu tượng cho sức sống mãnh liệt của con người Tây Nguyên. Tác giả đặt ra vấn đề lớn lao về sự sống của đất nước và nhân dân, rằng phải cùng nhau đứng lên cầm vũ khí chống kẻ thù tàn ác. Những tác phẩm này mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc, giúp học sinh hiểu biết về lịch sử và truyền thống cách mạng.

2.1. Phân tích tác phẩm Vợ chồng A Phủ

2.2. Phân tích tác phẩm Rừng xà nu

III. Phương pháp học tập sách ngữ văn 12 hiệu quả

Học sách giáo khoa ngữ văn 12 tập 2 đòi hỏi phương pháp khoa học và hệ thống. Trước tiên, học sinh cần đọc kỹ toàn bộ văn bản, đánh dấu những đoạn văn hay, những câu nói ấn tượng. Tiếp theo, phân tích cấu trúc tác phẩm, xác định hoàn cảnh sáng tác, nội dung tư tưởng và nghệ thuật biểu đạt. Ghi chép sổ tay văn học là phương pháp hiệu quả, giúp tổng hợp kiến thức và rèn luyện kỹ năng viết. Học sinh nên lập dàn ý chi tiết trước khi viết bài nghị luận, đảm bảo luận điểm rõ ràng, luận cứ thuyết phục. Thực hành viết thường xuyên với nhiều dạng đề khác nhau: nghị luận về tác phẩm, nghị luận về hiện tượng đời sống, nghị luận về tư tưởng đạo lí. Tham khảo thêm các tài liệu tham khảo uy tín để mở rộng kiến thức và góc nhìn. Học nhóm thảo luận cũng là cách hay để trao đổi quan điểm và phát triển tư duy phản biện.

3.1. Kỹ năng đọc hiểu và phân tích văn bản

3.2. Kỹ năng viết bài nghị luận văn học

IV. Giá trị và ứng dụng của sách ngữ văn 12 tập 2

Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập 2 mang giá trị giáo dục to lớn đối với thế hệ học sinh. Giá trị kiến thức thể hiện ở việc cung cấp hệ thống văn học Việt Nam từ trung đại đến hiện đại, giúp học sinh hiểu biết toàn diện về nền văn học dân tộc. Giá trị nhân văn được thể hiện qua các tác phẩm chứa đựng tình yêu thương con người, tinh thần yêu nước, ý chí vươn lên trong cuộc sống. Giá trị thẩm mỹ nằm ở nghệ thuật ngôn từ đặc sắc, cách xây dựng hình tượng nhân vật sinh động, kỹ thuật trần thuật đa dạng. Về ứng dụng thực tế, sách giúp học sinh phát triển tư duy cảm thụ, khả năng phân tích và đánh giá vấn đề xã hội. Kỹ năng viết văn nghị luận được rèn luyện thông qua các bài tập thực hành phong phú. Kiến thức văn học cũng hỗ trợ tích cực cho việc học các môn xã hội khác như lịch sử, địa lí. Sách còn là nguồn cảm hứng sáng tạo, khuyến khích học sinh khám phá và phát huy năng lực văn chương của bản thân.

4.1. Giá trị giáo dục và nhân văn

4.2. Ứng dụng trong thi cử và đời sống

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

BO GIAO DUC VA DAO TAO PHAN TRONG LUAN (Téng Cha bien) - TRAN DANG SUYEN (Chủ biên phần Văn) BÙI MINH TOÁN (Chủ biên phân Tiếng Việt) - LÊ A (Chú biên phần Làm văn) ĐĂNG ANH ĐÀO - NGUYEN HAI HA - NGUYEN TH] NGAN HOA NGUYEN THAI HOA - ĐỒ KIM HOI - NGUYEN XUAN NAM DOAN DUC PHUONG- NGUYEN PHUONG - VU DUONG QUY |ĐẶNG ĐÚC SIÊU- LƯƠNG DUY THỨ Noữ văn lZ - (Tái bản lần thứ ba) NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM Bản quyền thuộc Nhà xuất ban Giáo dục Việt Nam — Bộ Giáo dục và Đào tạo. 01—2011/CXB/177-1235/GD Mã số : CH2I2T1 VO CHONG A PHU TÔ HOÀI KẾT QUÁ CÂN ĐẠT s Hiếu được cuộc sống cực nhục, tối tầm và quá trình đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc vùng lên tự giải phóng khói ách áp bức, kim kẹp cúa bọn thực dân và chúa đất thống trị. « Thấy được nghệ thuật tran thuật linh hoạt, lời van tinh tế, giàu chất thơ và đậm màu sắc dân tộc của tác phấm ; những đóng góp của nha văn trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật, sự tỉnh tế trong diễn tá cuộc sống nội tâm, sớ trường quan sát những nét riêng về phong tục, tập quán và lối sống của người Mông. TIEU DAN 16 Hoai sinh nam 1920, tên khai sinh là Nguyễn Sen, quê nội ở thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tinh Ha Dong “tnay thuộc Hà Nội), nhưng sinh ra và lớn lên ở quê ngoại ~ làng Nghĩa Đô, thuộc phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Dong (nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội) trong một gia đình thợ thủ công. Thời trẻ, öng đã phải lăn lộn kiếm sống bằng nhiều nghề, như làm gia sư dạy kèm trẻ, bán hang, làm kế toán hiệu buôn, và nhiều khi thất nghiệp. Tô Hoài bước vào con đường văn học băng một số bai thơ có tính chất làng mạn và một cuốn truyện vừa, viết theo dạng võ hiệp, nhưng rồi ông nhanh chúng chuyển sang văn xuôi hiện thực và được chú ý ngay từ những sáng tác đầu tay, trong đó có Dế Mèn phiêu lưu kí. Năm 1943, ông gia nhập Hội Văn hoá cứu quốc. Trong kháng chiến chống thực đân Pháp, ông làm bảo và hoạt động văn nghệ TÔ HOÀI ở Việt Bắc. Sau hơn sáu mươi năm lao động nghệ thuật, ông đã có gân 200 đầu sách thuộc nhiều thể loại khác nhau : truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, tự truyện, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác, Ống là một nhà văn lớn, có số lượng tảc phẩm đạt kỉ lục trong văn học hiện đại Việt Nam. 3 Sáng tác của ông thiên về diễn tả những sự thật của đời thường, Theo ông : “Viết văn là một quá trình đấu tranh để nói ra sự thật. Đã là sự thật thì không tâm thường, cho dù phải đập vỡ những thần tượng trong lòng người đọc. Ông có vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục, tập quán của nhiều vùng khác nhau trên đất nƯỚC ta. Ông cũng là nhà Văn luôn hấp dẫn người đọc bởi lối trần thuật hém hinh, sinh động của người từng trải, vốn từ vựng giàu có - nhiều khi rất bình dân và thông tục, nhưng nhờ cách sử dụng đắc địa và tài ba nên có sức lôi cuốn, lay động người đọc. Năm 1996 ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Tác phẩm chính : Dế Mèn phiêu lưu kí (truyện, 1941), Ó chuột (tập truyện, 1942), Quê người (tiểu thuyết, 1942), Nhà nghèo (tập truyện ngắn, 1944), Truyện Tây Bắc (tập truyện, 1953), Miền Tây (tiểu thuyết, 1967), Cái bụi chân ai (hồi kí, 1992), Chiều chiều (tự truyện, 1999), Ba người khác (tiểu thuyết, 2006). Truyện ngắn Vợ chồngA Phủ (1952) ìn trong tập Truyện Tây Bắc, được tặng giải Nhất - Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 — 1955, sau hơn nửa thế kỉ, đến nay van giữ gần nhự nguyên vẹn giá trị và sức thu hút đối với nhiều thế hệ người đọc. VĂN BẢN Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí” Pá Tra thường trông thấy có một cô con gái ngồi quay sợi gai bên tăng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa”. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Người ta thường nói : nhà Pá Tra làm thống lí, ăn của dân nhiêu, đồn Tây lại cho muối về bán, giàu lắm, nhà có nhiều nương, nhiều bạc, nhiều thuốc phiện nhất làng. Thế thì con gái nó còn bao giờ phải xem cái khổ mà biết khổ, mà buôn. Nhưng rồi hỏi ra mới rõ cô ấy không phải con gái nhà Pá Tra : cô ấy là vợA Sử, con trai thống lí Pá Tra. C6 Mi về làm dâu nhà Pá Tra đã mấy năm. Từ năm nào, cô không nhớ, cũng không ai nhớ. Nhưng người nghèo ở Hồng Ngài thì vẫn còn kể lại câu chuyện Mị về làm người nhà quan thống lí. Ngày xưa, bố Mi lấy mẹ Mị không có đủ tiên cưới, phải đến vay nhà thống lí, bố của thống lí Pá Tra bây giờ. Mỗi năm đem nộp lãi cho chủ nợ một nương ngô. Đến tận khi hai vợ chồng về già rồi mà cũng chưa trả được nợ. Người vợ chết, cũng chưa trả hết nợ. (1) Tô Hoài trả lời phỏng vấn của báo An rính thế giới, ngày 29 — 7 — 2007. (2) Thống lí : người cai quản một vùng bản làng miền nứi của người Mèo (nay gọi là Mông) trước Cách mạng, tương tự như phì¿ của người Thái, chánh tổng ở miễn xuôi. (3) Tàu ngựa : chuồng ngựa. 4 Cho tới năm ấy Mị đã lớn, Mi la con gai đầu lòng. Thống lí Pá Tra đến bảo bố Mị : - Cho tao đứa con gái này về làm dậu thì tao xoá hết nợ cho. Ông lão nghĩ năm nào cũng phải trả một nương ngô cho người ta, thì tiếc ngô, nhưng cũng lại thương con quá. Ông chưa biết nói thế nào thì Mị báo bố rằng : - Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu. Đến Tết năm ấy, Tết thì vui chơi, trai gái đánh pao!”, đánh quay rồi đêm đêm rủ nhau đi chơi. Những nhà có con gái thì bố mẹ không thể ngủ được vì tiếng chó sủa. Suốt đêm, con trai đến nhà người mình yêu, đứng thối sáo xung quanh vách. Trai đến đứng nhẫn cả chân vách đầu buồng Mị. Một đêm khuya, MỊ nghe tiếng gõ vách. Tiếng gõ vách hò hẹn của người yêu. Mị hôi hộp lặng lẽ quơ tay lên thì gặp hai ngón tay lách vào khe gỗ, sờ một ngón thấy có đeo nhẫn. Người yêu của Mị thường đeo nhãn ngón tay ấy. Mị bèn nhấc tấm vách gỗ. Một bàn tay dat Mị bước ra. Mi vừa bước ra, lập tức có mấy người choàng đến, nhét áo vào miệng Mị rồi bịt mắt, cõng Mị đi. Sáng hôm sau, Mị mới biết mình đang ngồi trong nhà thống lí Pá Tra. Họ nhốt Mị vào buông. Ngoài vách kia, tiếng nhạc sinh tiền” cứng ma đương rập rờn nhảy múa. Trong khi đó, A Sử đến nhà bố MỊ. A Sử nói : — Tôi đã cướp được con gái bố làm vợ, tôi đem về cúng trình ma nhà tôi rồi, bây giờ tôi đến trình cho bố biết. Tiền bac để cưới thì bố tôi bão đã đưa cả cho bố rôi `). Rồi A Sử về. Ông lão nhớ ngay câu nói của thống lí P4 Tra đạo trước : cho con gái vẻ nhà thống lí Pá Tra thì được trừ nợ. Chao ôi ! Thế là cha mẹ ăn bac của nhà giàu từ kiếp trước, bây giờ người ta bắt bán con trừ nợ. Không thể làm thế nào khác được rỗi ! (1) Đánh pao : trò chơi của thanh niên miễn núi trong những ngày Tết hoặc lễ hội. Nam nữ chia làm hai bên, vừa tung pao cho nhau vừa ca hát, giống như hát giao duyên ở miễn xuôi. (2) Sinh tiền (còn gọi là sênh tiển hoặc sanh tiên) : nhạc cụ thuộc bộ gõ, được làm bằng hai mảnh gỗ có đính các đồng tiền. (3) Theo phong tục hôn nhân của người Mông : được sự thuận tình của người con gái, để thể hiện tình yêu, sự mạnh mẽ và quyết đoán của mình, người con trai cùng bạn bè bí mật “cướp” cô gái mang về nhà mình, sau đó mới đến trình cho bố mẹ cô gái biết. Trong truyện, A Sử nhân cơ hội Mị ra gặp người yêu đã tổ chức bắt cóc cô về làm vợ để trừ nợ. (4) An bac : 4n tiền bạc ; ở đây muốn nói đến việc bố MỊ da vay tiền của hố thống lí Pa Tra mà không trả được. Có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc. Một hôm, Mị trốn về nhà, hai tròng mắt còn dé hoe. Trông thấy bố, Mi quỳ lạy, úp mật xuống đất, nức nở. Bố Mị cũng khóc, đoán biết lòng cơn gái : ~ May vé lay chao tao để mày đi chết đấy à ? Mày chết nhưng nợTao vẫn còn, quan lại bắt tao trả nợ. Mày chết rồi thì không lấy ai làm nương ngô giả được nợ người ta, tao thì ốm yếu quá rồi. Không được, con ơi ! Mi chỉ bưng mặt khóc. Mi ném nắm lá ngón?) xuống đất, nắm lá ngón Mị đã tìm hái trong rừng, Mị vẫn giấu trong áo. Thế là Mi không đành lòng chết. Mị chết thì bố Mi còn khổ hơn bao nhiêu lần bây giờ nữa. Mị đành trở lại nhà thống lí, Lần lần, mấy năm qua, mấy năm sau, bố Mị chết. Nhưng Mị cũng không còn tưởng đến Mị có thể ăn lá ngón tự tử nữa. Ở lâu trong cái khổ, Mi quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa, là con ngựa phải đối ở cái tàu ngựa nhà này đến ở cái tàu ngựa nhà khác, ngựa chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi. Mị cúi mặt, không nghĩ ngợi nữa, mà lúc nào cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm di lam lại : Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế. Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cá ngày. Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Ở cái buông Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa số một lỗ vuông bằng bàn tay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ