ĐỖ THỊ DUNG (Chi biên) VvE LAO DONG GIUP VIEC GIA DINH Ở VIỆT NAM (Sách chuyên khảo) PHÁP LUẬT VỀ LIU DONG GIUP VIEC GIA DINH OVIET NAM 3220-2018/CXBIPH/05-228/TP. ĐỖ THỊ DUNG (Chủ biên) PHÁP LUẬT VE LAO DONG GIUP VIEC GIA DINH Ở VIỆT NAM NHÀ XUẤT BẢN TƯ PHAP HÀ NỘI - 2018 Chủ biên: TS. ĐỎ TH] DUNG Tap thé tác giả: TS. DO TH] DUNG PGS.
TRAN TH] THUY LAM PGS. NGUYEN HIEN PHUONG ThS. DOAN XUAN TRUONG ThS. HÀ THỊ HOA PHƯỢNG ThS.
TRAN THỊ KIỀU TRANG ThS. NGUYEN TIEN DUNG LỜI NÓI ĐẦU Lao động giúp việc gia đình có đóng góp quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội toàn cầu cũng như đối với mỗi quốc gia. Trên thé giới, lao động giúp việc gia đình ngày càng gia tăng, nhất là ở các quốc gia đang phát triển. Vì thế, pháp luật của nhiều quốc gia rất quan tâm đến loại hình lao động này.
Ở Việt Nam, trên cơ sở các tiêu chuẩn lao động trong Cong ước số 189 của Tỏ chức lao động quốc tế, Bộ luật lao động năm 2012 đã quy định cụ thể về độ tuổi, hợp đồng lao động, điều kiện lao động, điều kiện sử dụng lao động,. đối với lao động giúp việc gia đình, tạo sự bình đẳng giữa những người lao động trong thực hiện quyền tự do việc làm và bảo đảm thu nhập. Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện, quy định về lao động giúp việc gia đình của Bộ luật lao động năm 2012 cũng dần bộc lộ một số vấn dé bát cập. Nhằm giúp độc gid, lao động giúp việc gia đình, người sử dụng lao động giúp việc gia đình và những người thực thi, nghiên cứu, giảng dạy pháp luật nói chung, pháp luật lao động giúp việc gia đình nói riêng hiểu day đủ, toàn diện về những vấn đề lý luận cũng như các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về lao động giúp việc gia đình và thực tiễn thực hiện, những ý kiến đề xuất hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp.
5 luật về lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam trong thời gian tới, Nhà xuất ban Tư pháp xuất bản cuốn “Pháp luật về lao dong giúp việc gia đình ở Việt Nam (Sách chuyên khảo)” do nhóm tác giả là giảng viên Bộ môn Luật lao động, Trường Đại học Luật Hà Nội biên soạn. Nhà xuất bản Tư pháp và các tác giả mong nhận được ý kiến góp ý của bạn đọc để cuốn sách hoàn thiện hơn trong những lần xuất bản sau. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc! Hà Nội, tháng 5 năm 2018 NHÀ XUÁT BẢN TƯ PHÁP LOI TÁC GIA Trên thé giới, hiện có khoảng 52,6 triệu lao động giúp việc gia đình và ngày càng gia tăng, nhất là ở các nước đang phát triển. Vì thế, pháp luật của nhiều nước trên thế giới, từ lâu, đã rat quan tâm đến lao động nảy.
Đặc biệt, năm 2011, Tổ chức lao động quốc té đã ban hành Công ước số 189 về việc làm bền vững đối với lao động giúp việc gia đình, trong đó quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của lao động giúp việc gia đình, chủ sử dụng lao động giúp việc gia đình nhằm bảo đảm tốt hơn việc làm cũng như thu nhập cho lao động giúp việc gia đình. Ở Việt Nam, lao động giúp việc gia đình đã tồn tại từ rất sớm trong đời sống xã hội. Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì quan niệm về lao động giúp việc gia đình khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường, với tư cách lả hoạt động lao động tạo ra thu nhập không bị pháp luật cắm nên lao động giúp việc gia đình được thừa nhận và quy định trong Bộ luật lao động năm 1994.
Nhằm phù hợp hơn với thực tế đời sống, Bộ luật lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn đã quy định cụ thể về lao động giúp việc gia đình. Đây là bước ngoặt quan trọng tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ việc làm, thu nhập và các quyền lợi khác cho lao động giúp việc gia đình, tạo sự bình đẳng giữa những người lao động trong thực hiện quyén tự do việc làm và bảo đảm thu nhập, ổn định đời sống. Song, qua hơn 05 năm thực hiện, quy định về lao động giúp việc gia đình của Bộ luật lao động năm 2012 cũng dần bộc lộ một số van dé bat cập như: thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của lao động giúp việc gia đình sống cùng gia đình người sử dụng lao động chưa phù hợp, việc áp dụng mức lương tối thiểu vùng làm căn cứ trả lương cho lao động giúp việc gia đình là không hợp lý, chưa quy định về đào tạo nghề cho lao động giúp việc gia đình, chưa quy định các hành vi xúc phạm nhân phẩm, thân thẻ,. bị xử phạt, mức xử phạt đối với hành vi vi phạm pháp luật lao động giúp việc gia đình còn thấp, chưa đủ nghiêm khắc và chưa có tính ran đe, v.
Từ bat cập này đã dẫn đến tình trạng các bên nhất là chủ gia đình không tuân thủ pháp xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của lao động giúp việc gia đình. Đó là không trả lương đây đủ cho lao động giúp việc gia đình, yêu cầu lao động giúp việc gia đình làm việc cả ngày và đêm không được trả tiền lương làm thêm giờ, làm đêm, không được nghỉ hằng tuần, hằng năm,. Nhiều trường hợp lao động giúp việc gia đình bị đánh đập dã man,. Ngược lại, tình trạng lao động giúp việc gia đình vi phạm pháp luật như bạo hành thành viên trong hộ gia đình, trộm cắp tài sản của chủ nhà,.
cũng xảy ra phổ biến. Trong khi đó, lao động giúp việc gia đình không ngừng gia tăng trong những năm gần đây. Theo Trung tâm Dự báo và Thông tin thị trường lao động quốc gia, số lượng lao động giúp việc gia đình trong năm 2015 tăng khoảng 63% so với năm 2008 (từ 157. Dự báo đến năm 2020, ở Việt Nam sẽ có khoảng 350.000 lao động giúp việc gia đình.
Ngoài ra, trong xu hướng chung của pháp luật quốc tế cũng như yêu cầu đặt ra của pháp luật lao động trong bối cảnh hội nhập, cần thiết phải bảo đảm quyền lợi các bên trong quan hệ lao động giúp việc gia đình, nhất là bảo đảm vị thế và việc làm bền vững cho lao động giúp việc gia đình. Voi những lý do trên, chúng tôi biên soạn cuốn “Pháp luật về lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam (Sách chuyên khảo) ". Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến rất quý báu của nhiều nhà khoa học, của đồng nghiệp, các nhà quản lý và cơ quan liên quan trong quá trình biên soạn và hoàn thiện cuốn sách này. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng khó tránh khỏi những, thiếu sót, chúng tôi rat mong nhận được ý kiến của bạn đọc dé lần xuất bản sau cuốn sách được hoàn thiện hơn.
TẬP THE TÁC GIA Chủ biên TS. Đỗ Thị Dung CHUONG I MOT SO VAN DE CHUNG VE LAO DONG GIUP VIEC GIA DINH VA PHÁP LUAT LAO DONG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH 1. MỘT SÓ VAN DE LY LUẬN VE LAO DONG GIÚP. VIỆC GIA ĐÌNH VÀ PHAPL 'LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH 1, Một số vấn dé lý luận về lao động giúp việc gia đình 1m lao động giáp việc gia đình Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, giúp việc gia đình là công việc xuất hiện từ rất sớm và phát triển nhanh chóng trong những thập ky gần đây.
Do sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời do yêu cầu chuyên môn hóa công việc ngày càng cao, nhiều gia đình có điều kiện về kinh tế nhưng ban rộn với công, việc xã hội, nên ít có thời gian dé làm các công việc gia đình. Bởi vậy, nhu cầu sử dụng lao động giúp việc gia đình gia tăng, mạnh ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở các thành phó lớn. Tính đến năm 2010, trên thế giới có khoảng 52,6 triệu lao động giúp việc gia đình (tăng 19 triệu lao động từ giữa thập kỷ 90 đến năm 2010), chiếm từ 5 - 10% lực lượng lao động ở các quốc 11 gia đang phát triển và từ | - 2,5% ở các quốc gia công nghiệp phát triển.! Với tỷ lệ đáng kể trong lực lượng lao xã hội như vậ) lao động giúp việc gia đình đã, đang và sẽ có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội toàn cầu. Tuy nhiên, thực tế trong thị trường lao động, lao động giúp việc gia đình vẫn bị đánh giá tháp, bị coi là lao động không cần có kỹ năng, vi thé hầu như không được quan tâm, dẫn đến bj phân biệt đối xử về điều kiện làm việc và dé bị lạm dụng về nhân quyền.
Nhằm bảo vệ lao động giúp việc gia đình, Tổ chức lao động quốc tế cũng như pháp luật của nhiều quốc gia trên thể giới đã cong nhận giúp việc gia đình là một nghề và lao động giúp việc gia đình là người lao động như những lao động khác.? Họ có day đủ 1 Văn phòng Tổ chức lao động quốc tế, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cuộc họp tham van việc làm bên vững cho những người lao động giúp việc gia đình, Hà Nội, 2010; ILO, Domestic workers across the world: Global and regional statistics and the extend of legal protection, 2013. ? Lao động giúp việc gia đình được nhiều quốc gia quan tâm. Uruguay, Tây Ban Nha, Nam Phi, Philippines, Campuchia, Brunei, Singgapore, Việt Nam. quy định trong Luật lao động hoặc Luật việc làm và trong đỏ có quy định riêng đối với lao động giúp việc gia đình.
Một số quốc gia khác như Ân Độ, Mỹ, Canada có các quy định, quy tắc cụ thé cấp quốc gia hoặc địa phương. về lao động giúp việc gia đình. Một số quốc gia như Pháp, Italia. lao động tập thé cấp quốc gia hoặc khu vực về lao động giúp việc gia đình.
Riêng Philippines, ngoài quy định trong Bộ luật lao động năm 1974, nước nảy còn quy. định “Chính sách hành động cho sự bảo vệ và phúc lợi cho lao động giúp việc gia đình” (còn được gọi là luật dành cho người giúp việc gia đình) được ban hành ngày, 18/01/2013. Xem: Trung tâm nghiên cứu giới, gia đình và phát triển cộng đồng, Báo cáo rà soát pháp luật, chính sách, nghiên cứu quốc tế và Việt Nam liên quan đến lao động giúp việc gia đình, Hà Nội, 2013, tr. 12 các quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động khi tham gia quan hệ lao động.