PHUNG TRUNG TAP (Sach chuyên khản) la] NHÀ XUẤT BẢN HÀ NỘI LUẬT DÂN SU VIET NAM. BÌNH GIẢI VÀ ÁP DỤNG LUẬT THỪA KẾ PGS. PHÙNG TRUNG TẬP LUATDAN SUWET nam - Bind Gi Ud A Dune LUAT THUA KE (Sanh chuyên khảo) TRUNG TAM THONG TIN THU VIỆN| TRUONG ĐẠI HỌC ey pono PHONG DỤC NHA XUAT BAN HA NOI Loi nbé đu Bo6 luật Dân sự nước Cộng xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 là Bộ luật Dân sự thứ ba của nhà nước dân chỉ nhân đân. Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2017.
Nhằm mục dich cung cấp cho độc giả có sự thống nhất trong cách hiểu những quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, áp dụng những quy định của Bộ luật vio các quan hệ tài sẵn mang tính chất hàng hóa - tiền tệ va các quan hệ nhân thân phi tài sản trong xã hội hiện đại, tác gid biên soạn bộ sách khoa học mang tên: “Luật dan sự Việt Nam - Bình giải va áp dung”, theo thứ tự các phần trong bộ luật va theo những nội dung quy định tại các chế định của bộ luật. Hy vong, nội dung bộ sách chuyên khảo nay sẽ đáp ứng được những như cầu của độc giả trong tiệc tìm hiểu, hoc tập, giảng day, áp dụng Luật Dân sự. Nội dung của bộ sách được trình bày theo một logic va phương thức tình - giải để hiểu những quy định của Bộ luật Dân sự va để áp dụng những quy định này vao đời sống thực tế uốn đa dạng, phong phú va phức tap. Bộ sách sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót, mong độc giả thông cảm va góp ý để lần tái ban được hoàn thiện hơn.
Trân trong giới thiệu cuốn sách chuyên khảo Luật Thừa kế trong bộ sách “Luật dan sự Việt Nam - Bình giải và áp dụng” v6i đông đảo bạn đọc. TÁC GIẢ Phân thứ nhất NHỮNG QUY ĐỊNH MỚI CƠ BẢN VỀ THỪA KẾ TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 Chế định quyền thừa kế trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, được sửa đổi, bổ sung những điểm lớn, cơ bản cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ phát triển nên kinh tế thị trường. Bên cạnh những quy định được sửa đổi, bổ sung thì cũng có quy định bị loại bỏ trong bộ luật, cụ thể là quy định về đi chúc chung của vợ chồng. So với số lượng các điều luật của chế định quyền thừa kế trong Bộ luật Dân sự năm 2005 thì Bộ luật Dân sự năm 2015 giảm 3 điều quy định về di chúc chung của vợ chồng, gồm các Điều 663, Điều 664 và Điều 668 Bộ luật Dân sự năm 2008, 1L NHỮNG ĐIỂU ĐƯỢC SỬA ĐỔI, BO SUNG TẠI PHẦN QUY ĐỊNH CHUNG Tại phần quy định chung, chương XXI, từ Điều 609 đến Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015, có sửa đổi, bổ sung một số điều so với Bộ luật Dân sự năm 2005, cụ thể: 1.
Về quyển thừa kế, Điều 609 BLDS năm 2015, bổ sung đoạn 2 về người thừa kế là các tổ chức, chủ thể khác T1 g5 I5. PHUNG TRUNG TẬP ngoài cá nhân: “Người thừa kế không là cá nhân có quyển hưởng di sin theo di chúc”. Điều 609 BLDS năm 2015, bổ sung quy định mới, người thừa kế không là cá nhân được thừa kế theo di chúc. Quy định mới này đã hoàn thiện hơn và nhằm nhấn mạnh quyển tự định đoạt của người lập di chúc có quyền chỉ định một tổ chức hưởng di sản của mình sau khi chết.
Tên của Điều 609 BLDS năm 2015 đã có tính khái quát hơn về quy định quyền thừa kế, mà không áp đặt như tên gọi và nội dung của Điều 631 BLDS năm 2005. Điều 631 BLDS năm 2005, quy định về quyền thừa kế của cá nhân. Nếu xét về quyền của người thừa kế, thì người thừa kế là cá nhân có thể được thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật. Nhưng quyền của người lập di chúc còn là quyền định đoạt tài sản của mình theo đi chúc cho chủ thể khác ngoài cá nhân như Nhà nước, các tổ chức khác.
Tên gọi và nội dung quy định tại Điều 609 BLDS năm 2015 đã điều chỉnh toàn diện quyền của người thừa kế theo di chúc và theo pháp luật. Quy định của điều luật nhằm tôn trọng và bảo đảm cho cá nhân, các tổ chức và Nhà nước có quyển hưởng di sản thừa kế theo di chúc của người để lại di sản. Mặt khác, cũng bảo đảm cho quyển của cá nhân trong việc lập di chúc định đoạt tài sản của mình cho bất kỳ chủ thể nào, mà không phụ thuộc vào chủ thể được chỉ định thừa kế theo đi chúc có thuộc diện và hàng thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản thừa kế hay không. Về Điều 618 (Điều 640 BLDS năm 2005) quy định về quyền của người quản lý di sản, bổ sung điểm c khoản.
2 và bổ sung khoản 3 (điểm c: “Được thanh toán chỉ phí bảo LUẬT THUR KẾ quản”; khoản 3: “Trường hợp không đạt được thỏa thuận tới những người thừa kếuề mức thù lao thì người quân lý di sẵn được hưởng một khoản thù lao hợp lý”. Quyền của người quản lý di sản theo quy định tại Điều 618 BLDS năm 2015, được bổ sung điểm c khoản 2 và bổ sung khoản 3, thể hiện rõ ràng hơn quy định tại Điều 638 BLDS năm 2005 về người quản lý di sản ở những điểm sau đây: Thứ nhất, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người quản lý di sản trong “Trường hợp di chúc không chỉ định người quan lý di sin va những người thừa kế chua cử được người quan lý di sẵn thì người đang chiếm hitu, sử dung, quản lý di sẵn tiếp tục quan lý di sẩn đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quén lý di sin” (Khoản 2 Điều 616 BLDS năm 2015), là việc người quản lý di sản được thanh toán chỉ phí bảo quản di sản. Từ thời điểm mở thừa kế, cho đến khi di sản thừa kế được chia cho những người thừa kế có quyền hưởng hoặc theo di chúc hoặc theo pháp luật là một khoảng thời gian nhất định. Vì vậy, việc quản lý di sản thừa kế chưa chia là thật sự cần thiết, tránh mất mát, hao hụt, hư hỏng.
Nhằm bảo quản di sản thừa kế chưa chia, người quản lý di sản có thể tìm những giải pháp tốt nhất để bảo quản di sản, những giải pháp bảo quản di sản cần phải mua sắm vật liệu che mưa, che nắng, bảo quản tránh hư hỏng, hao hụt, tiêu hủy theo thời gian trong môi trường cụ thể hoặc phải thuê kho, thuê mặt bằng để tập kết và bảo quản di sản là những động sản, xây dựng hàng rào để bảo quản nhà cửa, bảo vệ vật nuôi, bảo quản cây trồng và những tài sản thuộc di sản thừa kế. Vi vậy, quy định cho người quản lý di sản được hoàn trả 85 I5.PHÌI§ TRUNG TẬP những chỉ phí bảo quản di sản mà họ đã chỉ một cách hợp lý là đúng. Thứ hai theo quy định tại khoản 3 Điều 618 BLDS năm 2015 (là một điều khoản bổ sung): “Trường hợp không đạt được thỏa thuận vdi người thừa kế vé mức thù lao thì người quân lý di sin được hưởng một khoản tha lao hợp lý”. Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 618 BLDS nam 2015, thì lợi ích của người quản lý di sản được xác định dựa trên căn cứ: “Được hưởng thù lao theo thỏa thuận với những người thừa kế".
Vì vậy, nếu người quản ly di sản không thỏa thuận được với những người thừa kế về mức thù lao mà người quản lý di sản được hưởng, thì người quản lý di sản được hưởng một khoản thù lao hợp lý. Khoản 3, Điều 618 BLDS năm 2015 là một điều khoản bổ sung, nhằm bảo vệ quyển của người quản lý di sản trong trường hợp giữa người quản lý di sản và những người thừa kế không thỏa thuận được về khoản thù lao trả cho người quản lý di sản, thì “một khoản thù lao hợp lý” phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của từng vụ việc để tòa án có căn cứ quyết định. Tính hợp lý của khoản thù lao này phải dựa trên những căn cứ như: Loại tài sản, quy mô, giá trị, chủng loại tài sản, thời gian quản lý, thực trạng tài sản trong thời gian quản lý, tình hình an ninh trật tự trong khu vực có tài sản là di sản thừa kế, tính phức tạp và mức độ. phức tạp khi thực hiện việc quản lý đi sản thừa kế mà người quản lý di sản phải thực hiện để bảo tổn tài sản.
Với những cơ sở thực tế này, tòa án xem xét và ấn định số tiền thù lao mà những người thừa kế có nghĩa vụ thanh toán cho người quản lý di sản. Khoản tiền thù lao trả cho người quản lý được trích ra từ khối lượng giá trị di sản LUẬT THUR KẾ thừa kế. Người quản lý đi sản theo quy định tại Điều 616 BLDS năm 2015, là những chủ thể được xác định từ các căn cứ: - Là người được chỉ định theo di chúc; - Là người do những người thừa kế thỏa thuận cử ra; Nếu người để lại di sản theo di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dung, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý đi sản (khoản 2 Điều 616). Theo quy định tại khoản 3 Điều 616, thì: “Trường hợp chưa xác định được người thita kế tà di sẵn chúa có người quản lý theo quy định tại khoản 1 va khoản 2 Điều này thì di sẵn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý” Như vậy, người quản lý di sản là những người được hưởng thù lao do thực hiện việc quản lý di sản thừa kế của cá nhân chưa chia.
Tuy nhiên, sự cần thiết phải xác định lợi ích của người quản lý di sản trong những trường hợp khác nhau, căn cứ vào việc người quản lý di sản là người có đang thực hiện một giao địch dân sự hay không? Nếu một người đang chiếm hữu, sử dụng tài sản là đi sản thừa kế thông qua một giao địch dân sự cho thuê, cho mượn, cầm cố. khi người để lại đi sản còn sống đã xác lập, thì người đang sử dụng tài sản là đi sản thừa kế đang trong thời kỳ thuê, mượn, cầm cố có được hưởng thù lao không? Cần phân biệt rõ người quản lý di sản là người được 065.