Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ RỐI NHIỄU TÂM LÝ Ở TRẺ EM SỐNG TRONG GIA ĐÌNH CÓ BẠO LỰC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về rối nhiễu tâm lý trẻ em Rối nhiễu tâm lý (RNTL) trẻ em là vấn đề thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà Tâm lý học lâm sàng, Tâm bệnh học, Tâm thần học, Công tác xã hội trên thế giới và Việt Nam. Các nghiên cứu nhằm lý giải nguồn gốc, các hình thức biểu hiện, các yếu tố củng cố, duy trì và các liệu pháp can thiệp RNTL trẻ em được thực hiện theo các hướng tiếp cận chính sau đây.
Hướng tiếp cận sinh học: Một số tác giả tiêu biểu theo hướng tiếp cận sinh học: Crowe. Các tác giả này cho rằng, RNTL trẻ em có nguồn gốc bẩm sinh, di truyền hoặc do sự tổn thương não bộ, rối loạn sinh lý thần kinh [44,56,65,71]. Theo hướng tiếp cận sinh học, trị liệu RNTL trẻ em chủ yếu dựa vào can thiệp y tế. Hướng tiếp cận văn hóa - xã hội: Một số tác tác giả tiêu biểu theo hướng tiếp cận này là Cole, D.
Theo các tác giả này cộng đồng, mối quan hệ với những người xung quanh, những sự kiện xảy ra trong cuộc sống, phương tiện truyền thông đại chúng, trò chơi điện tử, sự đánh giá và chấp nhận của những người xung quanh là các yếu tố liên quan trực tiếp đến RNTL trẻ em [43,46,47,52,70]. Công tác phòng ngừa, can thiệp RNTL trẻ em gắn liền với việc hạn chế những yếu tố bất lợi từ môi trường sống, thay đổi mối quan hệ của trẻ em với những người xung quanh, nâng cao năng lực thích ứng xã hội cho trẻ em. Hướng tiếp cận tâm lý: Khác với các tác giả theo hướng tiếp cận văn hóa – xã hội, nhấn mạnh đến các yếu tố khách quan, các tác giả theo hướng tiếp cận tâm lý nhấn mạnh đến các yếu tố chủ quan gây ra RNTL trẻ em. Tuy nhiên, theo hướng tiếp cận này, có nhiều trường phái tâm lý khác nhau, mỗi trường phái có những cách thức lý giải riêng về nguồn gốc gây ra RNTL và biện pháp can thiệp, phòng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Trường phái Phân tâm học của S. Freud coi những chấn thương tâm lý ở tuổi ấu thơ và sự xung đột trong đời sống nội tâm giữa cái “Nó”, cái “Tôi”, cái “Siêu tôi” là nguyên nhân chính gây ra RNTL ở lứa tuổi thanh thiếu niên, tuổi trưởng thành. Trong công tác phòng ngừa và can thiệp, Freud và các nhà Phân tâm học nhấn mạnh đến việc giải tỏa lo âu, nguyên nhân chính gây ra RNTL, củng cố sức mạnh của cái “Tôi”. Trường phái Tâm lý học nhận thức – hành vi của Seligman (1975), Bandura (1977), Lewinsohn (1979), Beck (1977), Ellis (1977) cho rằng, RNTL trẻ em xuất phát từ quá trình điều kiện hóa những điều quan sát thấy và học hỏi được từ môi trường xung quanh, từ sự nhận thức không phù hợp của cá nhân.
Trong công tác phòng ngừa và can thiệp, các nhà Tâm lý học nhận thức – hành vi đề cao việc cấu trúc lại nhận thức, hình thành ở trẻ em những kiểu hành vi mới và nâng cao năng lực ứng phó với các sự kiện gây stress trong cuộc sống. Lý thuyết gắn bó của Bowlby (1969), Ainsworth, Blehar, Waters, Wall (1978). Lý thuyết liên kết xã hội của Benjamin (1974,1993,1995), Thompson (2000). Hai lý thuyết này cho rằng, RNTL trẻ em bắt nguồn từ sự thiếu vắng tương tác về mặt cảm xúc giữa trẻ và người mẹ.
Việc phòng ngừa và can thiệp RNTL ở trẻ em, cần tập trung vào việc thay đổi mối quan hệ liên nhân cách và sự tương tác cảm xúc trong quan hệ mẹ con. Hướng tiếp cận sinh – tâm – xã hội: Các tác giả đi theo hướng nghiên cứu này cho rằng, không chỉ có các yếu tố bên trong hoặc bên ngoài là nguyên nhân gây ra RNTL ở trẻ em. Nguồn gốc gây ra RNTL trẻ em là sự kết hợp giữa các yếu tố sinh học, tâm lý và những tác động từ môi trường văn hóa, xã hội. Một trẻ em mang trong mình một gen tâm bệnh lý nào đó, sống trong gia đình có nhiều xung đột và stress có nguy cơ cao dẫn đến bị RNTL.
Trong trường hợp này gen đóng vai trò nguồn gốc, stress trong gia đình là yếu tố khởi phát. Ngược lại, một trẻ em có thể mang trong mình gen tâm bệnh lý nhưng sống trong môi trường thuận lợi, được chăm sóc, không phải trải qua những sự kiện gây sang chấn nghiêm trọng sẽ không bị RNTL. Theo hướng nghiên cứu này, chúng ta có thể tham khảo một số tác giả: Anjali Subbarao. A và cs (2008), nghiên cứu mối tương quan giữa di truyền, môi trường và rối nhiễu hành vi, rối nhiễu trầm cảm điển hình ở trẻ em [41]; Zoë Prichard và cs (2008) nghiên cứu sự tương tác giữa gen MAOA và hành vi chống 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đối xã hội [71]; Kevin M.
Beaver và cs (2009) nghiên cứu sự ảnh hưởng của di truyền, môi trường xã hội đến sự tự kiểm soát và hành vi sử dụng ma túy, phạm pháp, chống đối xã hội [58]. Theo hướng tiếp cận sinh – tâm – xã hội, việc phòng ngừa, can thiệp RNTL trẻ em cần có sự kết hợp giữa can thiệp y tế, trị liệu tâm lý và tác động làm thay đổi môi trường sống xung quanh, hạn chế sự tác động tiêu cực từ môi trường sống đến trẻ em. Tuy nhiên, ở mỗi thời điểm và tùy thuộc vào mức độ RNTL, một trong ba hình thức can thiệp trên sẽ được chú trọng và ưu tiên. Ở Việt Nam, các nhà Tâm lý học luôn đặt vấn đề nghiên cứu tâm lý trẻ em nói chung, RNTL trẻ em nói riêng theo hướng tiếp cận tâm lý – xã hội dựa trên quan điểm Tâm lý học hoạt động [7,17].
Theo hướng tiếp cận này có các tác giả tiêu biểu: Phạm Minh Hạc (1988), Lê Khanh (2003). Bên cạnh hướng tiếp cận truyền thống, một số tác giả: Nguyễn Công Khanh (2000), Nguyễn Thị Hồng Thúy và cs (2007), Hoàng Cẩm Tú và cs (2007), Đỗ Ngọc Khanh (2010).v, nghiên cứu RNTL trẻ em theo phương pháp tiếp cận nhận thức – hành vi [16,19,27,30]. Một số tác giả khác: Trần Thu Hương (2012), Nguyễn Minh Đức (2012) nghiên cứu RNTL ở trẻ em theo luận thuyết Phân tâm học [12,81]. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, người đặt nền móng cho Tâm lý học lâm sàng trẻ em Việt Nam, có một quan điểm chiết trung trong nghiên cứu và thực hành: chẩn đoán và trị liệu RNTL trẻ em [37].
Trong nghiên cứu này, hướng tiếp cận văn hóa – xã hội trong nghiên cứu tâm lý con người là hướng tiếp cận chính được sử dụng làm cơ sở lý luận nghiên cứu về RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL. Theo hướng tiếp cận này, tâm lý người có nguồn gốc từ thế giới khách quan, trong đó nguồn gốc xã hội là yếu tố quyết định. Vì vậy, RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL được xem là hậu quả của việc trẻ em chứng kiến và chịu đựng sự trừng phạt của cha mẹ. Do vậy, khi nghiên cứu RNTL ở trẻ em, phải xem xét hoàn cảnh gia đình và hình thức BLGĐ mà trẻ em chứng kiến và trải nghiệm.
Cũng theo hướng tiếp cận này, tâm lý con người mang tính chủ thể, sự hình thành, phát triển và biến đổi của tâm lý con người diễn ra cùng với sự phát triển của cá nhân, gia đình và xã hội. Vì thế, khi nghiên cứu RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL cần xem xét sự nhận thức, cảm xúc và hành vi của trẻ em trong và sau khi trải nghiệm BLGĐ, những ảnh hưởng trước mắt và lâu dài của BLGĐ đối với sự phát triển tâm lý, nhân cách của trẻ em. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nghiên cứu về rối nhiễu tâm lý ở trẻ em sống trong gia đình có bạo lực Sự ảnh hưởng của BLGĐ đối với sự hình thành và phát triển tâm lý trẻ em được bắt đầu nghiên cứu từ đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước [75].
Tuy nhiên, đến nay đã có nhiều cách tiếp cận và quan điểm khác nhau về sự ảnh hưởng này. Dưới đây là một số kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước xung quanh vấn đề này. Nghiên cứu ở nước ngoài Trong ba thập kỷ qua, các nghiên cứu về việc trẻ em chứng kiến hoặc chịu đựng BLGĐ không ngừng gia tăng ở Bắc Mỹ và Châu Âu. Tổng quan một số công trình nghiên cứu về chủ đề này ở hai khu vực trên cho thấy, các tác giả tập trung lý giải và làm sáng tỏ một số vấn đề: Hậu quả của BLGĐ đối với trẻ em.
Các nghiên cứu chỉ ra rằng, việc trẻ chứng kiến cảnh BLGĐ và hoặc bị cha mẹ ngược đãi ở tuổi ấu thơ gây ra một số RNTL ở lứa tuổi thiếu niên, muộn hơn là ở tuổi trưởng thành, tuy nhiên sự ảnh hưởng tiêu cực của BLGĐ đối với trẻ em là khác nhau ở mỗi trẻ em. Nghiên cứu hội chứng stress sau sang chấn ở trẻ em của Kilpatrick và Williams (1997) cho thấy, những trẻ em phải chứng kiến cảnh bạo lực giữa cha mẹ dễ bị stress sau sang chấn hơn so với những trẻ em không phải chứng kiến cảnh bạo lực này [59]. Nghiên cứu về hậu quả lâu dài của BLGĐ đối với trẻ em của Rossman (2001) chỉ ra rằng, việc chứng kiến cảnh bạo lực giữa cha mẹ là điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển hành vi gây hấn, phạm tội ở tuổi trưởng thành trong các mối quan hệ liên nhân cách hoặc những triệu chứng tâm thần như buồn rầu, tự huỷ hoại bản thân và những vấn đề liên quan đến sức khoẻ thể chất: đau đầu, cơ thể dễ bị mệt mỏi và hành vi sử dụng các chất gây nghiện [66]. Nghiên cứu so sánh, đối chứng của Fortin và cs (2002) giữa trẻ em sống trong GĐCBL và gia đình không có bạo lực cho thấy, nhóm trẻ em sống trong GĐCBL phải chứng kiến cảnh bạo lực giữa cha mẹ có biểu hiện rối nhiễu hành vi ứng xử như xâm kích, tăng động, phạm pháp nhiều hơn so với nhóm trẻ em sống trong gia đình không có bạo lực giữa cha mẹ [76].
Nhóm trẻ em chứng kiến BLGĐ cũng có xu hướng không vâng lời, nói dối, phá huỷ đồ đạc, gian lận, đánh nhau hoặc tỏ ra hung dữ hơn so với nhóm trẻ em đối chứng. Nhóm trẻ em sống trong GĐCBL còn bị rối nhiễu cảm xúc: lo âu, 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.