Tổng quan nghiên cứu

Thống kê từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho thấy Việt Nam có hơn 2,6 triệu trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, chiếm khoảng 9,0% trong tổng số 30,2 triệu trẻ em cả nước. Trong đó, hơn 14.000 trẻ em mất nguồn nuôi dưỡng hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn phải sinh sống và học tập tập trung tại các cơ sở trợ giúp xã hội. Nhóm trẻ vị thành niên sống trong môi trường bảo trợ thường phải trải qua nhiều biến cố gia đình và sang chấn tâm lý trước khi được tiếp nhận, dẫn đến nguy cơ cao mắc các rối nhiễu tâm lý hướng ngoại.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện thực trạng, mức độ biểu hiện của rối loạn hành vi trên hai phương diện chính: hành vi gây hấn và hành vi sai phạm ở trẻ vị thành niên đang sinh sống tại các mái ấm tập trung. Đồng thời, đề tài đi sâu xác định các yếu tố nguy cơ thúc đẩy và các yếu tố bảo vệ giúp giảm nhẹ các biểu hiện lệch chuẩn này.

Mục tiêu cụ thể của luận văn hướng tới việc cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm toàn diện về tâm lý hành vi của trẻ từ 11 đến 18 tuổi. Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực địa trong thời gian từ tháng 9/2016 đến tháng 6/2017 tại hai địa bàn đại diện: Làng trẻ em SOS Hà Nội và Làng trẻ em Birla Hà Nội. Ý nghĩa nghiên cứu mang tính ứng dụng sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học để thiết lập các can thiệp tâm lý chuyên sâu, hướng tới mục tiêu giảm thiểu từ 15% đến 20% tần suất xuất hiện các hành vi xung đột và củng cố chất lượng chăm sóc cho hơn 130 trẻ tại Làng Birla cùng hàng trăm trẻ em tại Làng SOS.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng khung phân loại bệnh học quốc tế ICD-10 (mục F91 về các rối loạn hành vi khởi phát ở lứa tuổi thanh thiếu niên) và tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-5 của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ. Theo tiêu chuẩn DSM-5, rối loạn hành vi được xác định khi cá nhân có ít nhất 3 trong 15 tiêu chí kéo dài liên tục từ 6 đến 12 tháng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng học tập và xã hội. Đề tài kết hợp lý thuyết hệ thống sinh thái của Bronfenbrenner và lý thuyết học tập xã hội của Bandura để phân tích sự tương tác giữa cá nhân và môi trường sống tập thể.

Nghiên cứu tập trung làm rõ bốn khái niệm then chốt:

  1. Rối loạn hành vi: Khuôn mẫu hành vi lặp đi lặp lại vi phạm nghiêm trọng các chuẩn mực xã hội và quyền cơ bản của người khác.
  2. Hành vi gây hấn: Lời nói hoặc hành động có chủ đích nhằm làm tổn thương, đe dọa hoặc phá hủy đối tượng xung quanh.
  3. Hành vi sai phạm: Các vi phạm nội quy, quy chuẩn đạo đức và luật lệ cộng đồng như trốn học, nói tục, nói dối.
  4. Cơ sở bảo trợ xã hội: Thiết chế chăm sóc thay thế nuôi dưỡng trẻ em thuộc 14 nhóm hoàn cảnh đặc biệt theo Luật Trẻ em năm 2016.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khảo sát trên tổng mẫu 149 trẻ vị thành niên với độ tuổi trung bình là 14,3 tuổi (độ lệch chuẩn SD = 2,2). Trong đó, Làng trẻ em SOS Hà Nội chiếm 52,3% (78 trẻ) và Làng trẻ em Birla Hà Nội chiếm 47,7% (71 trẻ); tỷ lệ giới tính gồm 45,0% nam (67 trẻ) và 55,0% nữ (82 trẻ). Phương pháp chọn mẫu chỉ tiêu kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cho cả hai mô hình bảo trợ phi chính phủ quốc tế và cơ sở công lập trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.

Dữ liệu định lượng được thu thập thông qua Phiếu kiểm kê hành vi do trẻ tự đánh giá YSR phiên bản tiếng Việt gồm 11 item đo lường hành vi sai phạm (độ tin cậy Cronbach's Alpha = 0,617) và 18 item đo lường hành vi gây hấn (Cronbach's Alpha = 0,691), kết hợp cùng Thang đo khó khăn cảm xúc và hành vi rút gọn gồm 20 item (Cronbach's Alpha = 0,68). Dữ liệu định tính được bổ trợ qua phỏng vấn sâu cá nhân và 2 buổi thảo luận nhóm tập trung (gồm nhóm 15 trẻ vị thành niên và nhóm 17 cán bộ mẹ nuôi, dì bảo mẫu). Quy trình phân tích định lượng thực hiện trên phần mềm SPSS phiên bản 21.0 với các phép kiểm định Independent Samples T-test, Paired-Samples T-test, phân tích phương sai ANOVA và mô hình hồi quy đa biến nhằm xác định chính xác mối quan hệ nhân quả giữa các biến số tâm lý xã hội.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích thống kê chỉ ra rằng trẻ vị thành niên tại cơ sở bảo trợ có biểu hiện hành vi gây hấn cao hơn rõ rệt so với hành vi sai phạm. Điểm trung bình hành vi gây hấn đạt M = 9,89 (SD = 4,28), trong khi điểm trung bình hành vi sai phạm chỉ dừng ở mức M = 4,85 (SD = 2,52); sự khác biệt có ý nghĩa thống kê rất cao với t(-15,45), p < 0,001. Có 16,8% trẻ (25 em) bộc lộ hành vi gây hấn ở mức độ cao và 14,8% trẻ (22 em) có hành vi sai phạm ở mức độ cao. Đáng chú ý, có 9,3% trẻ (14 em) đồng thời mắc cả hai dạng rối loạn ở mức độ nghiêm trọng.

Xét về các biểu hiện cụ thể, trong nhóm hành vi gây hấn, triệu chứng phổ biến nhất là hay cãi cọ, lý sự với điểm trung bình M = 0,90 (70,5% trẻ xác nhận đúng một phần và 10,1% xác nhận hoàn toàn đúng), tiếp đến là tính khí cáu giận (M = 0,89) và nói nhiều, gây ồn ào (M = 0,87). Hành vi đe dọa hoặc đánh người khác chiếm điểm số thấp nhất (M = 0,24; với 77,9% trẻ khẳng định không có hành vi này).

Đối với nhóm hành vi sai phạm, biểu hiện nổi bật nhất là xu hướng thích chơi với những người bạn lớn tuổi hơn (M = 1,13; 27,5% trẻ chọn hoàn toàn đúng), theo sau là hành vi nói tục, chửi bậy (M = 0,76; 61,7% trẻ chọn đúng một phần) và nói dối, gian lận (M = 0,59). Các hành vi nghiêm trọng như bỏ nhà qua đêm (M = 0,09) và lấy cắp đồ đạc trong nhà (M = 0,10) chỉ xuất hiện ở dưới 10,0% mẫu khảo sát.

Khác biệt nhân khẩu học ghi nhận hành vi sai phạm ở trẻ nam (M = 5,28; SD = 2,65) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với trẻ nữ (M = 4,50; SD = 2,36) với t(-1,90), p = 0,05. Tuy nhiên, hành vi gây hấn không ghi nhận sự chênh lệch đáng kể giữa hai giới.

Thảo luận kết quả

Căn nguyên chính dẫn đến các hành vi gây hấn bằng lời nói (cãi cọ, nói tục) bắt nguồn từ sự thiếu hụt kỹ năng kiểm soát xung động và tâm trạng buồn chán tích tụ. Mẫu nghiên cứu cho thấy có tới 57,7% trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ và 65,1% trẻ đã sống tại cơ sở bảo trợ trên 5 năm. Việc thiếu vắng sự gắn bó mẹ con thời thơ ấu cùng cảm giác mặc cảm về hoàn cảnh gia đình gốc dễ đẩy trẻ vào trạng thái phòng thủ tâm lý, biến sự bất an nội tâm thành hành vi chống đối bề ngoài.

Kết quả nghiên cứu này tương đồng với các công bố quốc tế của Jozefiak khi nhận định trẻ sống nội trú có tỷ lệ rối loạn tâm lý dao động từ 48,6% đến 76,0%. Dữ liệu thực nghiệm của đề tài có thể được mô hình hóa trực quan tối ưu thông qua biểu đồ cột ghép thể hiện sự phân hóa điểm số giữa hành vi gây hấn và sai phạm theo giới tính, kết hợp cùng bảng ma trận tương quan chỉ rõ tác động thuận chiều của tâm trạng buồn chán và tác động đảo chiều của sự tương trợ bạn bè đối với chỉ số rối loạn hành vi.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Triển khai chương trình giáo dục kỹ năng giao tiếp và kiểm soát cảm xúc cho 100% trẻ vị thành niên tại các cơ sở bảo trợ. Mục tiêu hướng tới việc giảm 30% tần suất các hành vi cãi cọ, cáu gắt trong sinh hoạt thường nhật. Chương trình do Phòng Giáo dục - Đào tạo của làng trẻ phối hợp cùng chuyên viên tâm lý thực hiện trong lộ trình 6 tháng liên tục.
  2. Xây dựng không gian văn hóa, thể thao và mô hình hỗ trợ đồng đẳng nhằm thu hút tối thiểu 85% trẻ tham gia thường xuyên từ 3 đến 4 buổi mỗi tuần. Hoạt động này tạo cơ hội giải phóng năng lượng ức chế và gia tăng chỉ số gắn kết nhóm, do Đoàn Thanh niên và Ban Quản lý làng trẻ trực tiếp điều hành trong quý 1 hàng năm.
  3. Tổ chức khóa tập huấn chuyên sâu về tâm lý lứa tuổi và kỹ năng xử lý khủng hoảng hành vi cho 100% đội ngũ mẹ nuôi, dì bảo mẫu (khoảng 35 đến 40 nhân sự). Khóa học tập trung thay đổi phương pháp kỷ luật trừng phạt sang kỷ luật tích cực, hoàn thành trong khung thời gian 3 tháng dưới sự hướng dẫn của giảng viên tâm lý lâm sàng.
  4. Thiết lập quy trình sàng lọc sức khỏe tâm thần định kỳ 6 tháng một lần bằng bộ công cụ chuẩn hóa YSR để rà soát toàn bộ nhóm trẻ có nguy cơ cao (chiếm khoảng 9,3% đến 16,8% tổng số trẻ). Bộ phận công tác xã hội và y tế sẽ xây dựng hồ sơ theo dõi tâm lý cá nhân hóa và cung cấp các phiên tham vấn chuyên biệt ngay khi phát hiện dấu hiệu bất thường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý và nhân viên chăm sóc tại các trung tâm, làng trẻ bảo trợ xã hội: Giúp hiểu rõ cơ chế tâm lý đằng sau các hành vi bất phục tùng của trẻ; ứng dụng trực tiếp vào việc cải tiến nội quy sinh hoạt gia đình và phương pháp giáo dục hành vi hàng ngày.
  2. Chuyên viên tâm lý học lâm sàng và nhân viên công tác xã hội: Cung cấp nguồn tham chiếu chuẩn hóa về thang đo YSR trên nhóm trẻ đặc thù; ứng dụng thiết kế các gói can thiệp trị liệu nhận thức - hành vi (CBT) nhằm giảm thiểu xung động gây hấn.
  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Tâm lý học, Xã hội học, Công tác xã hội: Kế thừa cơ sở lý luận vững chắc và nguồn số liệu định lượng chuẩn xác từ 149 khách thể nghiên cứu để phục vụ các đề tài nghiên cứu mở rộng về sức khỏe tâm thần học đường và thanh thiếu niên yếu thế.
  4. Cơ quan hoạch định chính sách bảo vệ chăm sóc trẻ em thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội: Nắm bắt các con số thực tiễn về tỷ lệ 65,1% trẻ lưu trú dài hạn trên 5 năm; ứng dụng xây dựng tiêu chuẩn vị trí việc làm chuyên trách tham vấn tâm lý trong hệ thống cơ sở trợ giúp xã hội công lập.

Câu hỏi thường gặp

Trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội thường biểu hiện dạng rối loạn nào nhiều nhất?

Nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ biểu hiện hành vi gây hấn nhiều hơn đáng kể so với hành vi sai phạm. Điểm trung bình hành vi gây hấn đạt M = 9,89 cao hơn nhiều so với hành vi sai phạm là M = 4,85. Trong đó, các hành vi phổ biến nhất là cãi cọ, lý sự (chiếm trên 80,6% ở các mức độ) và cáu giận.

Có sự khác biệt về hành vi sai phạm và gây hấn giữa trẻ nam và trẻ nữ hay không?

Có sự khác biệt rõ rệt về hành vi sai phạm khi trẻ nam đạt điểm trung bình 5,28, cao hơn mức 4,50 của trẻ nữ (p = 0,05). Tuy nhiên, đối với hành vi gây hấn, nghiên cứu ghi nhận không có sự chênh lệch đáng kể giữa hai giới tính khi cả nam và nữ đều có tỷ lệ gây hấn mức cao xấp xỉ 16,8%.

Yếu tố nguy cơ nào thúc đẩy mạnh nhất hành vi rối loạn ở trẻ?

Tâm trạng buồn chán, cảm giác cô đơn và mặc cảm về hoàn cảnh gia đình gốc (với 57,7% trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ) là những yếu tố nguy cơ hàng đầu. Khi thiếu hụt kỹ năng giao tiếp xã hội, trẻ thường có xu hướng biến các xung đột nội tâm thành hành vi cáu gắt và chống đối với người xung quanh.

Yếu tố bảo vệ nào giúp giảm thiểu hiệu quả các hành vi lệch chuẩn của trẻ?

Sự tương trợ lẫn nhau giữa các anh chị em trong nhà và mạng lưới bạn bè thân thiết là yếu tố bảo vệ vững chắc nhất. Trẻ có số lượng bạn thân nhiều hơn và thường xuyên tham gia các hoạt động ngoại khóa đoàn thể ghi nhận mức độ ổn định cảm xúc cao hơn và giảm hẳn các biểu hiện hung tính.

Tại sao các hành vi nghiêm trọng như bỏ nhà qua đêm hay trộm cắp lại có tỷ lệ rất thấp?

Các hành vi như bỏ nhà qua đêm (M = 0,09) và trộm cắp (M = 0,10) chỉ xuất hiện dưới 10,0% do mô hình chăm sóc gia đình thay thế tại Làng SOS và Birla tạo được môi trường an toàn, có sự giám sát gần gũi từ các mẹ nuôi và đáp ứng đầy đủ các nhu cầu sinh hoạt cơ bản cho trẻ.

Kết luận

  • Luận văn xác lập bức tranh thực nghiệm toàn diện về rối loạn hành vi ở 149 trẻ vị thành niên tại Làng SOS và Làng Birla Hà Nội, chỉ ra điểm trung bình hành vi gây hấn (M = 9,89) vượt trội so với hành vi sai phạm (M = 4,85).
  • Phát hiện 16,8% trẻ có hành vi gây hấn mức cao và 14,8% trẻ có hành vi sai phạm mức cao, trong đó nhóm nam giới có biểu hiện sai phạm cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nữ giới.
  • Khẳng định các biểu hiện tập trung chủ yếu ở dạng gây hấn lời nói (cãi cọ, lý sự chiếm 80,6%) và thích kết nối với bạn lớn tuổi, trong khi các hành vi phạm pháp nghiêm trọng chiếm tỷ lệ rất nhỏ.
  • Chứng minh mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố nguy cơ (buồn chán, thiếu kỹ năng) và yếu tố bảo vệ (tương trợ đồng đẳng, hoạt động tập thể) trong việc điều hòa hành vi của trẻ.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp can thiệp hành vi có lộ trình từ 3 đến 6 tháng, đặt nền tảng cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ công tác xã hội và chăm sóc sức khỏe tâm thần tại các cơ sở bảo trợ.

Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ sở nuôi dưỡng cần nhanh chóng áp dụng quy trình đánh giá định kỳ bằng thang đo chuẩn hóa và triển khai các nhóm can thiệp tâm lý chuyên sâu. Độc giả quan tâm và các nhà chuyên môn có thể khai thác toàn bộ dữ liệu thực nghiệm cùng khung công cụ nghiên cứu để áp dụng vào thực tiễn chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.