Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm kĩ năng Tùy vào góc độ tiếp cận, các nhà khoa học có những cách giải thích khác nhau về khái niệm kĩ năng. “Từ điển tiếng Việt” giải thích “Kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [19, 520].
Còn Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh thì giải thích kĩ năng là “năng lực khéo léo” [2; tr. Dưới góc nhìn của một nhà sư phạm, tác giả Nguyễn Trí quan niệm kĩ năng là “khả năng vận dụng những kiến thức nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [28; tr. Dưới góc độ tâm lí học, tác giả Nguyễn Hữu Hợp [8] quan niệm, kĩ năng là khả năng thực hiện đúng các thao tác, hành động và đạt được kết quả nhất định. Như vậy, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kĩ năng.
Những định nghĩa này thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của người viết. Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kĩ năng được hình thành khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Kĩ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó. Kĩ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng.
Giải thích khái niệm kĩ năng, chúng ta thấy các nhà nghiên cứu thường đề cập đến hai khía cạnh chủ yếu: - (1) Kĩ năng là khả năng thực hiện đúng thao tác, hành động. - (2) Nó giúp con người đạt được kết quả nhất định. Tiếp thu quan niệm của các nhà nghiên cứu, chúng tôi quan niệm rằng, 9 kĩ năng là khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi. Khái niệm giao tiếp Từ điển Tiếng Việt giải thích “Giao tiếp là trao đổi, tiếp xúc với nhau.
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp” [19, tr. Bàn về về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, Mai Ngọc Chừ đưa ra định nghĩa như sau: “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là sự tiếp xúc giữa con người (nhóm người), trong đó diễn ra sự trao đổi thông tin (hiểu rộng), đồng thời thể hiện thái độ, cách đánh giá, cách ứng xử của các nhân vật giao tiếp đối với nội dung giao tiếp và giữa các nhân vật giao tiếp với nhau” [7, tr. Về nguyên tắc, giao tiếp ngôn ngữ mang tính chất xã hội, trong đó người tham gia giao tiếp phải có mối quan hệ nhất định với nhau, đó là quan hệ giao tiếp. Quan hệ giao tiếp được xây dựng dựa trên hệ thống các mối quan hệ xã hội nói chung, trên cấu trúc xã hội và trên quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp hoặc nhóm người trong xã hội.
Giao tiếp ngôn ngữ có thể thực hiện bằng lời (giao tiếp miệng) hoặc bằng văn tự (giao tiếp viết). Trong hai dạng trên thì giao tiếp miệng là cơ sở của giao viết. Kĩ năng giao tiếp Kĩ năng giao tiếp là khả năng nhận biết nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài và đoán biết diễn biến tâm lí bên trong của đối tác giao tiếp, đồng thời biết sử dụng phương tiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ, biết cách định hướng để điều khiển, điều chỉnh quá trình giao tiếp đạt hiệu quả [29]. Phân môn Luyện từ và câu trong dạy học ở tiểu học 1.
Mục tiêu của phân môn Luyện từ và câu Mục tiêu của LT&C là sự cụ thể hóa các yêu cầu về nội dung dạy học từ 10 và câu trong mục tiêu môn Tiếng Việt ở tiểu học. Dạy học LT&C cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về các kiểu từ phân loại theo cấu tạo, theo từ loại, các kiểu câu, các thành phần câu, các biện pháp liên kết câu, biện pháp tu từ, các loại dấu câu,… LT&C cung cấp cho HS những hiểu biết về tự nhiên, xã hội, con người, về văn hóa và văn học…thông qua hệ thống ngữ liệu là các câu, đoạn thơ văn được trích dẫn có chọn lọc trong tác phẩm văn thơ, các thành ngữ tục ngữ,… Góp phần giúp HS hiểu được vẻ đẹp và sự phong phú của Tiếng Việt, bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt, hình thành cho HS thói quen nói, viết đúng, thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam. Nhiệm vụ và nội dung dạy học của phân môn Luyện từ và câu Phân môn LT&C ở tiểu học có nhiệm vụ chủ yếu làm giàu vốn từ và phát triển năng lực dùng từ đặt câu của HS Nhiệm vụ này bao gồm các công việc sau: Dạy nghĩa từ: Làm cho HS nắm nghĩa từ bao gồm việc thêm vào vốn từ của HS những từ mới và những nghĩa mới của từ đã biết, làm cho các em nắm được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ. Dạy từ ngữ phải hình thành những khả năng phát hiện ra những từ mới chưa biết trong văn bản cần tiếp nhận, nắm một số thao tác giải nghĩa từ, phát hiện ra những nghĩa mới của từ đã biết, làm rõ những sắc thái nghĩa khác nhau của từ trong những ngữ cảnh khác nhau.
Hệ thống hóa vốn từ: Dạy HS biết cách sắp xếp các từ một cách có hệ thống trong trí nhớ của mình để tích luỹ vốn từ nhanh chóng và tạo ra tính thường trực sẵn sàng phục vụ hoạt động giao tiếp của từ, tạo điều kiện cho các từ đi vào hoạt động lời nói được thuận lợi. Từ đó, hình thành ở HS kĩ năng đối chiếu từ trong hệ thống hàng dọc của chúng, đặt từ trong hệ thống 11 liên tưởng cùng chủ đề, đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, cùng cấu tạo… tức là kĩ năng liên tưởng để huy động vốn từ. Tích cực hóa vốn từ: Dạy cho HS sử dụng từ, phát triển kĩ năng sử dụng từ trong lời nói và viết của HS, đưa từ trở thành vốn từ tích cực được HS dùng thường xuyên. Dạy cho HS biết cách đặt câu, sử dụng các kiểu câu đúng mẫu, phù hợp với hoàn cảnh, mục đích giao tiếp.
Luyện từ và câu cũng cung cấp một số kiến thức về từ và câu: Luyện từ và câu cung cấp cho HS một số kiến thức về từ và câu cơ bản, sơ giản, cần thiết và vừa sức với HS. Bên cạnh đó, LT&C còn trang bị cho HS những hiểu biết về cấu trúc của từ, câu, quy luật hành chức của chúng. Đó là các kiến thức về cấu tạo từ, nghĩa của từ, các lớp từ, từ loại; các kiến thức về câu như cấu tạo câu, các kiểu câu, dấu câu, các quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp. Ngoài ra, LT&C còn có nhiệm vụ rèn luyện tư duy và giáo dục thẩm mĩ cho HS.
Chương trình môn Tiếng Việt hiện hành ở lớp 3 phân bố phân môn LT&C mỗi tuần được dạy 01 tiết, học kì 1 gồm 16 tiết, học kì 2 gồm 15 tiết. Nội dung dạy học LT&C cho HS tập trung vào: - Dạy mở rộng từ, hệ thống hóa từ ngữ đã học, tích cực vốn từ (sử dụng vốn từ) theo các chủ điểm được học ở bài tập đọc; - Dạy về từ loại: ôn luyện các từ chỉ sự vật, hoạt động, trạng thái, đặc điểm đã học ở lớp 2; - Dạy các kiểu câu: tiếp tục củng cố, ôn luyện các kiểu câu ở lớp 2 như Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào? và các thành phần trong câu trả lời câu hỏi Ai? Là gì? Làm gì? Thế nào? Ở đâu? Bao giờ? Như thế nào? Bằng gì? Vì sao? - Dạy về dấu câu: ôn luyện về một số dấu câu cơ bản như dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm hỏi, dấu chấm than, học thêm về dấu hai chấm; 12 - Dạy phép tu từ so sánh, nhân hóa: cung cấp cho học sinh một số hiểu biết sơ giản về các phép tu từ so sánh, nhân hoá. Với nội dung dạy mở rộng từ, hệ thống hoá, tích cực vốn từ theo các chủ điểm, GV dựa vào vốn sống của học sinh và bài tập đọc mà gợi ý cho HS thực hiện các hoạt động học tập và rèn kĩ năng sử dụng vốn từ thông qua các bài tập. Hệ thống bài tập luyện tập mở rộng vốn từ rất đa dạng gồm: + Bài tập tìm từ ngữ theo chủ điểm; + Bài tập tìm hiểu, nắm nghĩa của từ; + Bài tập quản lí, phân loại vốn từ; + Bài tập rèn luyện cách sử dụng từ.
Biện pháp và quy trình dạy học MRVT và sử dụng vốn từ trong dạy học LT&C lớp 3 a) Về biện pháp dạy học Mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học nói chung và lớp 3 nói riêng, GV cần tuân thủ các nguyên tắc chung là mở rộng từ theo chủ đề và mở rộng từ theo quy luật liên tưởng. Với lớp 3, GV có thể hướng dẫn HS MRVT theo các cách sau: - Mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa: Biện pháp mở rộng vốn từ theo quan hệ ngữ nghĩa được xác lập dựa trên mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ: đồng nghĩa, trái nghĩa, gần nghĩa, nhiều nghĩa…GV có thể hướng dẫn HS sử dụng những cách thức sau để MRVT: + Tìm những từ cùng nghĩa, trái nghĩa với các từ cho trước; + Cung cấp chủ điểm, yêu cầu HS tìm từ ngữ xoay quanh chủ điểm đó; + Cho một dấu hiệu ngữ nghĩa của từ, yêu cầu học sinh liên tưởng tìm những từ ngữ theo dấu hiệu ngữ nghĩa đó. - Mở rộng từ theo quan hệ cấu tạo: GV hướng dẫn HS dựa vào một yếu tố cấu tạo từ cho sẵn để tìm các từ ngữ có cùng yếu tố cấu tạo và cùng kiểu 13 cấu tạo. Các yếu tố dùng để cấu tạo từ thường là những yếu tố gốc có khả năng tạo từ mới cao.
b) Về quy trình dạy học Tất cả các tiết học LT&C ở lớp 3 đều là tiết học thực hành nên dạy học MRVT luôn luôn gắn với các tiết học thực hành về từ ngữ thông qua hệ thống bài tập được thực hiện trong tiết học. Các tiết học MRVT dù được tổ chức dạy học linh hoạt bằng sự sáng tạo của mỗi GV nhưng vẫn có một quy trình dạy học chung. Và lẽ tất nhiên, dạy cho HS sử dụng vốn từ tích cực là một phần nội dung của tiết dạy học MRVT nên GV cũng thường tuân thủ hướng dẫn HS thực hiện các bài tập theo quy trình này.