phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của luận văn được cấu trúc thành ba chương Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2. Tổ chức rèn luyện kỹ năng so sánh cho học sinh trong dạy học tác phẩm Chí Phèo – Ngữ văn 11, Tập 1 Chƣơng 3. Thực nghiệm sư phạm 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Tư duy logic và liên tưởng - định hướng, tạo cơ chế cho sự so sánh 1. Tư duy logic Trong thực tế cuộc sống, có rất nhiều cái mà ta chưa biết, chưa hiểu. Song để làm chủ được thực tiễn, con người cần phải hiểu thấu đáo những cái chưa biết đó, phải vạch ra cái bản chất, mối quan hệ, liên hệ có tính quy luật của chúng. Quá trình đó gọi là tư duy.
“Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan mà trước đó ta chưa biết”. Như vậy, trong quá trình nhận thức, tư duy là hình thức phản ánh cao nhất, phức tạp nhất của con người về thế giới khách quan. Trong đó, con người sử dụng cảm giác, tri giác để nhận thức từng đối tượng riêng lẻ, cụ thể. Nhờ tư duy, con người nhận thức được những đặc điểm, thuộc tính và dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng mà con người không thể tri giác một cách trực tiếp được [27].
Và như vậy, quá trình nhận thức sẽ sâu sắc hơn. Một hành động tư duy là quá trình giải quyết một nhiệm vụ nào đấy nảy sinh trong nhận thức hay trong hoạt động thực tiễn. Từ khi chủ thể gặp “Tình huống có vấn đề”, nhận thức được vấn đề đến khi giải quyết được vấn đề là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn. Nhà tâm lí học K.
Platônôp đã tóm tắt các giai đoạn của một quá trình tư duy bằng sơ đồ dưới đây: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhận thức vấn đề Xuất hiện các liên tưởng Sàng lọc liên tưởng và hình thành giả thuyết Kiểm tra giả thuyết Chính xác hóa Khẳng định Phủ định Giải quyết vấn đề Hành động tư duy mới Đây chính là logic của tư duy, số lượng các giai đoạn có thể không đầy đủ trong những trường hợp nhất định nhưng thứ tự các giai đoạn phải tuân thủ theo sơ đồ trên. Nói đến tư duy logic thì trong đầu mỗi người cũng đều so sánh, phán đoán, suy lí trên các ý niệm, khái niệm về hiện tượng, sự vật xung quanh. Nghĩa là tự nhiên ban cho con người bộ não hoạt động tư duy với các quy luật logic vốn có, khách quan ở tất cả mọi người và ở mọi dân tộc. Bằng quá trình tư duy lâu dài của nhiều thế hệ, với sự đóng góp của nhiều người đã đưa đến những thành tựu vĩ đại của khoa học, kĩ thuật, công nghiệp và nông nghiệp.
Trong quá trình nghiên cứu của mình, con người tìm hiểu từng yếu tố của tự nhiên, xã hội và chỉ ra mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các thuộc tính của hiện tượng. Từ đó, con người tìm cách sử dụng những mối liên hệ và quy luật đã biết để giải quyết các yêu cầu về vấn đề chưa biết, để phát minh ra cái mới. Và cũng nhờ sự liên hệ, so sánh mà con người kiểm chứng lại những phát minh của mình thông qua thực tiễn. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khi nói về mối quan hệ qua lại giữa nhận thức cảm tính, tư duy lí tính và thực tiễn trong quá trình con người phản ánh thế giới, V.Lênin đã chỉ rõ rằng sự vận động thường xuyên từ những trường hợp cụ thể riêng biệt đến việc giải thích có tính chất lí luận, hiểu được chúng và sau đó quay trở lại làm biến đổi, cải tạo chúng, cải tạo các sự kiện hiện tượng của hiện thực với mục đích sử dụng những quy luật đã được con người nhận thức là cơ sở của các hình thức cao nhất của tư duy biện chứng.
Nhờ có hoạt động tư duy mà con người có thể định hướng cho hoạt động nghiên cứu của mình, không cần phải thử đi thử lại, mò mẫm, mắc hết sai lầm này đến sai lầm khác trước khi tìm ra con đường đúng đắn để đi đến phát minh. Chẳng hạn, để tìm ra biện pháp giáo dục mới cho trẻ tự kỉ, trước hết các nhà giáo dục sẽ dựa trên đặc điểm thần kinh, tâm – sinh lí của trẻ tự kỉ, định hướng phương pháp sau đó mới tiến hành thử nghiệm các phương pháp đã định ra. Đối với giáo dục học, vì đối tượng nghiên cứu là con người nên không thể tùy tiện thực hiện hàng loạt phép thử khi chưa xác định được khả năng thành công của các phép thử đó. Con người sử dụng những quy luật đã biết, những kiến thức đã biết và vận dụng những mối liên hệ đã biết, sau đó kiểm nghiệm qua thực tiễn và khẳng định tính đúng đắn của nó.
Cách làm này giúp giảm bớt thời gian và công sức mà đi đến thành công dễ dàng hơn. Quá trình tư duy luôn phải đặt ra các nhiệm vụ cụ thể và hoạt động tư duy luôn hướng vào việc giải quyết các nhiệm vụ đó, do đó tạo nên tính có vấn đề của tư duy, thôi thúc con người cần vạch rõ chúng, nhận thức chúng và tìm hiểu chúng. Nhu cầu này thường thấy khi con người gặp những cái mới, cái chưa biết hoặc chưa hiểu rõ. Đặc tính này cũng khiến con người hướng vào việc tìm cách giải quyết nhiệm vụ và thúc đẩy tư duy.
Đó chính là dấu hiệu bản chất của quá trình tư duy. Những vấn đề mà con người đã biết, đã tìm hiểu thì không cần tư duy cũng trả lời được. Và vì vậy, nếu bài toán đặt ra không có vấn đề mới cần giải quyết thì không thể gây hứng thú, không cần tư duy. Tư duy 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chỉ xuất hiện khi có vấn đề, là sự vận động từ cái chưa biết, chưa hiểu đến cái hiểu rõ.
Tư duy hướng vào việc vạch ra những mối liên hệ, phụ thuộc giữa các hiện tượng. Cái đó không thể vạch ra đầy đủ ở giai đoạn trực quan cảm tính, trực tiếp. Chúng chỉ có thể được vạch ra qua việc tìm tòi, lao động trí óc tích cực. Đó chính là việc tìm ra các vấn đề.
Vấn đề được nêu lên càng chính xác thì nhiệm vụ đặ ra càng rõ ràng, và hướng đi tìm lời giải càng cụ thể và chính xác hơn. Với những bài toán đơn giản, quá trình vạch ra mối liên hệ và quan hệ qua lại giữa các hiện tượng thường ngắn gọn. Nhưng với những bài toán phức tạp lại đòi hỏi phải giải lâu dài qua nhiều giai đoạn. Khi Paplốp tìm hiểu quy luật hoạt động của vỏ bán cầu não, sau khi tìm ra đáp số của vấn đề, ông lại thấy nảy sinh vấn đề khác.
Vậy là lời giải của một nhiệm vụ làm nảy sinh một nhiệm khác. Vì thế Paplốp đã viết: “kinh nghiệm 20 năm nghiên cứu khách quan về hoạt động thần kinh – thần kinh cấp cao của động vật là kết quả của quá trình tư duy liên tục trong 20 năm”. Tức là, việc tìm ra lời giải cho một quá trình rất căng thẳng, có mục đích, có tổ chức. Tư duy là một quá trình lao động say sưa, kiên trì, liên tục và có mục tiêu, nhiệm vụ được đặt ra trước.
Quá trình lao động càng vất vả, tư duy càng sâu sắc thì thành quả càng hoàn thiện. Kết quả của quá trình tư duy căng thẳng này là hiểu. Khi đã hiểu, chủ thể nhận thức có được tri thức mới về sự vật hiện tượng mà con người đã tư duy. Theo Paplốp, bởi vì một mối liên tưởng ban đầu nào dù nhỏ đều là nhân tố làm nảy sinh tư duy.
Nhưng mối liên tưởng này ngày càng được phát triển và tăng lên. Khi đó người ta nói rằng, tư duy sẽ sâu hơn và rộng hơn. Tư duy cũng có tính chất khái quát của nó. Đó là đặc tính rõ rệt nhất của tín hiệu ngôn ngữ.
Theo Paplốp, tín hiệu ngôn ngữ là sự trừu tượng hóa hiện thực, khái quát hóa, là tư duy cao cấp và rất đặc biệt của chúng ta. Tính khái quát của tư duy có vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động thực tiễn của con người. Nhờ vào đặc tính này, con người không chỉ giải quyết được nhiệm vụ trước mắt mà còn nhìn sâu về sau, có nghĩa là tiếp tục giải quyết các nhiệm vụ 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nảy sinh do kết quả của quá trình suy nghĩ. Trong văn học, để nghiên cứu và giảng dạy thì việc tư duy để tìm ra ý nghĩa, giá trị tác phẩm văn học, giúp cho học sinh có sự nhìn nhận sâu sắc bên cạnh sự cảm nhận để phát hiện ra những “lí lẽ trái tim” là vô cùng quan trọng.
Học tác phẩm “Chí Phèo”, học sinh sẽ thấy được giá trị của tác phẩm là sự tố cáo mạnh mẽ xã hội thuộc địa phong kiến tàn bạo đã cướp đi cả nhân hình và nhân tính của người nông dân lương thiện đồng thời nhà văn đã phát hiện và khẳng định bản chất tốt đẹp của con người ngay cả khi tưởng như họ đã biến thành quỷ dữ. Từ đó, học sinh có thái độ trân trọng, cảm thương, chia sẻ đối với những con người có số phận bất hạnh trong cuộc sống. Học tùy bút “Người lái đò sông Đà”, HS cảm nhận được vẻ đẹp đa dạng của con sông Đà vừa “hung bạo” vừa “trữ tình” cùng hình ảnh giản dị mà kì vĩ của người lái đò trên dòng sông ấy. Từ đó thấy được tình yêu, sự say đắm của Nguyễn Tuân trước thiên nhiên và con người lao động ở miền Tây Bắc của Tổ quốc.
Điều đó cũng gieo vào tâm hồn HS tình yêu, lòng tự hào về quê hương, đất nước và quý trọng lao động. Có nhiều mức độ khái quát hóa khác nhau, tùy thuộc vào từng trường hợp. người ta có thể tập hợp các sự vật hiện tượng khác nhau, trừu tượng hóa và khái quát hóa các thuộc tính chung, bản chất của chúng. Tuy nhiên, cần loại bớt các thuộc tính không cơ bản, riêng lẻ của từng sự vật hiện tượng.
Nhờ đó, khi giải quyết một nhiệm vụ cụ thể nào đó, không chỉ dừng lại ở vị trí như cũ mà phải biến đổi nó đi. Con người tìm ra những phạm trù, những nhóm hiện tượng làm nảy sinh nhiều nhiệm vụ mới.