Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục với đề tài "Rèn luyện kỹ năng phát triển chương trình giáo dục nhà trường cho sinh viên ngành Giáo dục mầm non trình độ cử nhân sư phạm" do nghiên cứu sinh Phạm Thị Huyền thực hiện tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (năm 2019), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Tuyết Nga và PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Trinh, thuộc chuyên ngành Lí luận và Lịch sử giáo dục (Mã số: 9.02).

Phát triển chương trình giáo dục (PTCTGD) nói chung và phát triển chương trình giáo dục nhà trường (PTCTGD nhà trường) nói riêng là xu thế chung của các bậc học trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. PTCTGD nhà trường cho phép các cơ sở giáo dục đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng cùng bàn bạc, chủ động xây dựng kế hoạch dựa trên nguyên tắc "lấy người học làm trung tâm", phát huy tính chủ động, sáng tạo của cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên, khắc phục tình trạng "đồng phục chương trình" giữa các cơ sở giáo dục mầm non. Căn cứ pháp lý cho định hướng này được xác lập từ Công văn 791/HD-BGDĐT ngày 25/6/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT, Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT, Thông tư số 01/VBHN-BGDĐT ngày 24/01/2017 ban hành Chương trình Giáo dục mầm non (CTGDMN), Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, cùng Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non (Thông tư số 26/2018/TT-BGDĐT).

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định từ thực tiễn: Giáo viên mầm non hiện nay còn hạn chế về kỹ năng PTCTGD nhà trường, đặc biệt ở các khâu phân tích tình hình nhà trường, xác định mục tiêu giáo dục và thiết kế chương trình. Trong khi đó, chuẩn đầu ra ngành Giáo dục Mầm non ở nhiều trường đại học sư phạm chưa đề cập rõ nét hoặc còn thiếu vắng việc rèn luyện kỹ năng này trong các đợt thực hành sư phạm (THSP) và thực tập sư phạm (TTSP). Cho đến thời điểm đề tài được triển khai, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về việc xây dựng nội dung và quy trình rèn luyện kỹ năng PTCTGD nhà trường mầm non (ở cấp độ nhóm lớp) cho sinh viên cử nhân sư phạm được công bố chính thức.

Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận án xây dựng nội dung và quy trình rèn luyện kỹ năng PTCTGD nhà trường (cấp độ nhóm lớp) cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non trình độ cử nhân sư phạm, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên mầm non.

Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non trình độ cử nhân sư phạm.
  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình rèn luyện kỹ năng PTCTGD nhà trường (cấp độ nhóm lớp) cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non trình độ cử nhân sư phạm cùng với các yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành và rèn luyện các kỹ năng đó.

Giả thuyết khoa học: Nếu xác định được nội dung, xây dựng quy trình rèn luyện kỹ năng PTCTGD nhà trường cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non khoa học, hợp lý theo hướng tích hợp vào một số học phần và các hoạt động thực hành thông qua THSP và TTSP thì sẽ hình thành được cho sinh viên kỹ năng PTCTGD nhà trường (cấp độ nhóm lớp).

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của PTCTGD nhà trường cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non trình độ cử nhân sư phạm.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng rèn luyện kỹ năng PTCTGD nhà trường (cấp độ nhóm lớp) cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non trình độ cử nhân sư phạm.
  3. Xây dựng nội dung, quy trình rèn luyện kỹ năng PTCTGD nhà trường (cấp độ nhóm lớp) cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non trình độ cử nhân sư phạm và tiến hành thực nghiệm sư phạm.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu nội dung và quy trình rèn luyện kỹ năng PTCTGD nhà trường ở cấp độ nhóm lớp cho sinh viên cử nhân sư phạm mầm non.
  • Về địa bàn khảo sát và thực nghiệm: Khảo sát tại các trường đại học có đào tạo chuyên ngành Giáo dục Mầm non đại diện theo khu vực gồm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Vinh, Trường Đại học Sài Gòn; cùng hệ thống các trường mầm non và giáo viên mầm non tại Thành phố Hà Nội, Thành phố Vinh, Thành phố Huế và Thành phố Hồ Chí Minh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân tích và tổng hợp các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài:

Nhóm nghiên cứu về phát triển chương trình và chương trình giáo dục nhà trường:

  • Trên thế giới, các tác giả đi theo hai hướng chính:
    • Hướng nghiên cứu đại cương về lý luận chương trình: Kieran Egan phân tích khái niệm và lịch sử phát triển thuật ngữ CTGD; R. M. Diamond nghiên cứu thiết kế và đánh giá khóa học theo quan điểm lấy người học làm trung tâm; P. F. Oliva tổng kết các định nghĩa, nguyên tắc, mô hình phát triển, thực thi và đánh giá chương trình; Jon Wiles và Joseph Bondi đề cập đến phát triển chương trình trong kỷ nguyên công nghệ và hướng dẫn thực hành phát triển chương trình.
    • Hướng nghiên cứu về chương trình giáo dục nhà trường (School-Based Curriculum Development - SBCD): Các tác giả như Reid, Colin J. Marsh, Bezzina, Rachel Bolstad đã làm rõ bản chất của việc phân cấp quản lý chương trình (quốc gia, địa phương, nhà trường), nguyên tắc và quy trình triển khai SBCD. Dự án AGQTP-9 (2009) tại Úc nghiên cứu chuẩn đầu ra đại học; Dự án CDEC/RCBEC tại Đại học Sư phạm Tây Bắc (Trung Quốc) thực hiện cải cách chương trình giảng dạy dựa trên nhà trường tại các tỉnh Tây Bắc Trung Quốc.
  • Tại Việt Nam, nghiên cứu về PTCTGD bậc đại học và phổ thông có các công trình của Nguyễn Đức Chính, Trần Đức Hoan, Nguyễn Văn Khôi, Bùi Đức Thiệp, Đoàn Thị Minh Trinh, Nguyễn Hội Nghĩa, Hồ Tiến Nhựt. Đối với bậc học mầm non, Nguyễn Thị Thu Hiền xuất bản giáo trình về phát triển và tổ chức thực hiện CTGDMN; Trần Thị Minh Huế biên soạn giáo trình PTCTGDMN, trình bày các cấp độ, nguyên tắc và quy trình lập kế hoạch theo năm học, tháng và chủ đề.

Nhóm nghiên cứu về kỹ năng và kỹ năng sư phạm:

  • Nghiên cứu quốc tế: Dựa trên tâm lý học hành vi (J. Watson) và tâm lý học hoạt động (P. I. Kixegov), các nhà nghiên cứu tiếp cận kỹ năng theo hai hướng là khả năng hoặc năng lực. O. A. Ap-đu-li-na và N. V. Cu-dơ-min-na phân tích hệ thống năng lực và kỹ năng sư phạm của người giáo viên; Kixegov phân loại hơn 100 kỹ năng sư phạm và đề xuất quy trình rèn luyện 5 giai đoạn trong trường đại học. Đại học Sư phạm Portland (thuộc Đại học Concordia) xác định hệ thống kỹ năng PTCTGD gồm kỹ năng phân tích, viết, giao tiếp, sáng tạo và lãnh đạo.
  • Nghiên cứu tại Việt Nam: Trần Quốc Thành, Hoàng Thị Oanh, Trần Anh Tuấn, Nguyễn Như An, Đặng Thành Hưng nghiên cứu về bản chất hành động của kỹ năng và quy trình rèn luyện kỹ năng giảng dạy, tổ chức hoạt động sư phạm cho sinh viên.

Nhóm nghiên cứu về rèn luyện kỹ năng nghề và kỹ năng phát triển chương trình cho sinh viên sư phạm mầm non:

  • Các tác giả Nguyễn Thị Phương Nhung, Nguyễn Thị Quỳnh Phương, Trương Thị Thanh Mai nghiên cứu rèn luyện kỹ năng dạy học qua dự án, hoạt động nhóm và dạy học vi mô.
  • Trong ngành Giáo dục Mầm non: Nguyễn Thị Hường (2002) xây dựng nội dung, quy trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm theo niên chế học phần tại Trường Đại học Sư phạm Vinh; Nguyễn Thị Mỹ Trinh (2009) xây dựng quy trình rèn luyện kỹ năng sư phạm theo chuẩn nghề nghiệp qua 4 mô-đun trong đào tạo theo tín chỉ; Nguyễn Thị Thanh Huyền nghiên cứu rèn luyện kỹ năng phát triển chương trình giáo dục cá nhân trẻ khuyết tật cho sinh viên cao đẳng sư phạm mầm non ngành giáo dục đặc biệt.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các nghiên cứu trước đã đề cập đến lý luận chương trình và rèn luyện kỹ năng sư phạm nói chung, nhưng chưa có công trình nào xây dựng một cách hệ thống nội dung, khung kỹ năng chi tiết và quy trình rèn luyện kỹ năng PTCTGD nhà trường ở cấp độ nhóm lớp tích hợp vào các học phần chuyên môn và các đợt THSP, TTSP cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non trình độ cử nhân sư phạm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp của các cơ sở lý luận đa ngành và văn bản chỉ đạo của ngành giáo dục:

  1. Cơ sở triết học: Vận dụng phép biện chứng duy vật về quy luật vận động và phát triển không ngừng của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy để khẳng định sự thay đổi, điều chỉnh của CTGDMN theo yêu cầu xã hội và sự phát triển của trẻ em là một tất yếu khách quan.

  2. Cơ sở tâm lý học:

  • Thuyết xã hội - văn hóa của L. Vygotsky: Nhấn mạnh vai trò của môi trường văn hóa, tương tác xã hội và khái niệm "vùng phát triển gần nhất" trong việc định hướng xây dựng chương trình giáo dục thúc đẩy nhận thức của trẻ.
  • Thuyết tâm lý xã hội của Erik Erikson: Chỉ ra tầm quan trọng của môi trường gia đình, nhà trường và hành vi ứng xử của người lớn đối với sự phát triển nhân cách của trẻ trong 8 năm đầu đời.
  • Thuyết hành vi của B. F. Skinner và Albert Bandura: Khẳng định trẻ học tập thông qua quan sát, bắt chước và củng cố hành vi bằng khen ngợi; định hướng việc PTCTGDMN không mang tính hàn lâm, cứng nhắc mà phải linh hoạt theo nhu cầu, hứng thú của trẻ.
  • Thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget: Phân chia các giai đoạn nhận thức, xác định hoạt động với đồ vật (ở lứa tuổi nhà trẻ) và hoạt động vui chơi (ở lứa tuổi mẫu giáo) là các hoạt động chủ đạo làm căn cứ xây dựng chương trình.
  • Thuyết sinh thái của U. Bronfenbrenner: Phân tích các tầng môi trường sinh thái bao quanh đứa trẻ, xác định môi trường gia đình và trường mầm non là môi trường trực tiếp và gần gũi nhất.
  1. Cơ sở giáo dục học:
  • Quan điểm giáo dục sớm: Tiếp thu các thành tựu nghiên cứu phát triển não bộ từ các phương pháp Montessori (Ý), "Phương án 0 tuổi" của Phùng Đức Toàn (Trung Quốc), phương pháp của Shichida Makoto (Nhật Bản), Glenn Doman (Mỹ), Reggio Emilia (Ý), Carl Orff/Carl Wester (Đức).
  • Quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm: Mọi hoạt động chăm sóc, giáo dục đều xuất phát từ trẻ, hướng vào trẻ và vì sự phát triển toàn diện của trẻ.
  • Quan điểm đa phương, đa ngành: Huy động sự tham gia của gia đình, cộng đồng và các lực lượng xã hội trong việc phát triển chương trình và chăm sóc giáo dục trẻ.
  1. Các quan điểm tiếp cận phát triển chương trình giáo dục mầm non: Luận án phân tích 4 quan điểm tiếp cận chính và quy trình triển khai tương ứng:
Quan điểm tiếp cận Bản chất và định hướng chính Quy trình triển khai cụ thể
Tiếp cận nội dung Lấy việc truyền thụ tri thức làm cốt lõi; giáo viên chủ động lựa chọn, điều chỉnh đề tài giáo dục dựa trên quy định của chương trình khung quốc gia. Bước 1: Xây dựng nội dung giáo dục theo độ tuổi (mạng nội dung, mạng hoạt động, hệ thống đề tài).
Bước 2: Xác định phương pháp, hình thức, điều kiện thực hiện.
Bước 3: Tổ chức thực hiện.
Bước 4: Đánh giá, điều chỉnh nội dung.
Tiếp cận tích hợp Lồng ghép, đan xen các lĩnh vực giáo dục tạo nên chỉnh thể thống nhất qua các chủ đề gần gũi với trẻ. Bước 1: Xác định hệ thống chủ đề (chủ đề lớn và chủ đề nhánh).
Bước 2: Xác định mục tiêu chủ đề (tích hợp các lĩnh vực phát triển).
Bước 3: Xây dựng mạng nội dung, mạng hoạt động xoay quanh chủ đề.
Bước 4: Xác định phương pháp, hình thức và điều kiện thực hiện.
Bước 5: Tổ chức thực hiện.
Bước 6: Đánh giá và điều chỉnh chủ đề.
Tiếp cận mục tiêu Mục tiêu là kết quả mong đợi được lượng hóa rõ ràng, vừa là định hướng vừa là tiêu chí đánh giá hiệu quả chương trình. Bước 1: Xác định mục tiêu giáo dục.
Bước 2: Xây dựng nội dung giáo dục phù hợp với mục tiêu.
Bước 3: Xác định phương pháp, hình thức, điều kiện thực hiện.
Bước 4: Tổ chức thực hiện.
Bước 5: Đánh giá và điều chỉnh mục tiêu.
Tiếp cận phát triển Xem PTCTGD là quá trình vận động đi lên liên tục; mục tiêu và kế hoạch sau kế thừa, phát triển dựa trên kết quả của giai đoạn trước và sự tiến bộ của trẻ. Bước 1: Xác định mức độ hiện tại của trẻ.
Bước 2: Xây dựng các mức độ phát triển tiếp theo.
Bước 3: Xác định nội dung, phương pháp, hình thức, điều kiện.
Bước 4: Tổ chức thực hiện.
Bước 5: Đánh giá quá trình và xác định lại mức độ phát triển.
  1. Phương pháp nghiên cứu:
  • Cách tiếp cận nghiên cứu: Tiếp cận hệ thống - cấu trúc; Tiếp cận hoạt động; Tiếp cận tích hợp; Tiếp cận mục tiêu.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Hồi cứu tài liệu, phân tích - tổng hợp, phân loại - hệ thống hóa các văn bản lý luận và chính sách giáo dục.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Anket): Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến dành cho cán bộ quản lý, giáo viên mầm non và sinh viên sư phạm mầm non.
    • Phương pháp chuyên gia và phỏng vấn sâu: Phỏng vấn giảng viên giảng dạy học phần PTCTGDMN, chuyên gia giáo dục mầm non, chuyên gia kiểm định chất lượng và giáo viên hướng dẫn thực hành, thực tập sư phạm.
    • Phương pháp đánh giá sản phẩm hoạt động: Phân tích chương trình đào tạo của các trường đại học, kế hoạch giáo dục nhóm lớp tại các trường mầm non và sản phẩm bài tập rèn luyện của sinh viên.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm rèn luyện kỹ năng cho sinh viên theo quy trình đã thiết kế nhằm kiểm chứng tính hiệu quả và khả thi.
  • Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2016 để xử lý và phân tích dữ liệu thống kê (tính điểm trung bình, phương sai, giá trị Mod, kiểm định sự sai khác $t$-test giữa các lần rèn luyện).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của rèn luyện kỹ năng phát triển chương trình giáo dục nhà trường cho sinh viên ngành Giáo dục mầm non trình độ cử nhân sư phạm

Chương 1 làm rõ hệ thống khái niệm công cụ và xây dựng khung lý luận cho toàn bộ luận án:

  • Khái niệm CTGD nhà trường mầm non: Là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục của nhà trường mầm non trong một năm học, thể hiện mục tiêu trẻ cần đạt được, xác định rõ phạm vi, mức độ, nội dung, phương tiện, phương pháp, hình thức tổ chức và cách thức đánh giá kết quả nhằm đạt mục tiêu nhà trường đề ra.
  • Khái niệm PTCTGD nhà trường mầm non: Là quá trình làm thay đổi một, một số hoặc toàn bộ các vấn đề của CTGDMN quốc gia và địa phương (nếu có) nhằm tạo ra chương trình giáo dục phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở mầm non và đáp ứng sự phát triển của trẻ em tại cơ sở đó.
  • Phân cấp chương trình: Luận án phân định 3 cấp độ PTCT trong nhà trường mầm non gồm: Cấp độ nhà trường (do Ban giám hiệu chủ trì), Cấp độ khối lớp (do Tổ trưởng chuyên môn chủ trì), và Cấp độ nhóm lớp (do Giáo viên mầm non phụ trách trực tiếp). Luận án xác định cấp độ nhóm lớp là hạt nhân cốt lõi tác động trực tiếp lên trẻ.
  • Khái niệm Kỹ năng PTCTGD nhà trường mầm non: Là hành động có ý thức, có mục đích, có kỹ thuật và có kết quả của giáo viên mầm non dựa trên tri thức về phát triển chương trình. Cấu trúc kỹ năng PTCTGD nhà trường (cấp độ nhóm lớp) gồm 5 kỹ năng thành phần:
    1. Kỹ năng phân tích tình hình nhóm lớp;
    2. Kỹ năng xác định mục tiêu giáo dục nhóm lớp;
    3. Kỹ năng thiết kế chương trình giáo dục nhóm lớp;
    4. Kỹ năng thực hiện chương trình giáo dục nhóm lớp;
    5. Kỹ năng đánh giá, điều chỉnh chương trình giáo dục nhóm lớp.
  • Bản chất và các con đường rèn luyện kỹ năng: Rèn luyện kỹ năng PTCTGD nhà trường cho sinh viên là quá trình tổ chức thực hành, luyện tập có hệ thống theo quy trình khoa học thông qua học phần chuyên môn, hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên (RLNVSPTX), thực hành sư phạm và thực tập sư phạm.

Chương 2: Thực trạng rèn luyện kỹ năng phát triển chương trình giáo dục nhà trường cho sinh viên ngành Giáo dục mầm non trình độ cử nhân sư phạm

Chương 2 trình bày quy trình khảo sát, bộ công cụ và kết quả đánh giá thực trạng trên diện rộng:

  • Địa bàn và mẫu khảo sát: Điều tra tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Vinh, Trường Đại học Sài Gòn; cùng cán bộ quản lý và giáo viên mầm non tại Hà Nội, Vinh, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Đánh giá thực trạng chương trình đào tạo đại học: Một số trường đại học đã đưa học phần "Phát triển chương trình giáo dục mầm non" vào chương trình đào tạo, tuy nhiên nội dung chủ yếu dừng lại ở việc trang bị lý luận chung. Trong các đợt THSP và TTSP, nội dung rèn luyện kỹ năng PTCTGD nhà trường cấp độ nhóm lớp chưa được chú trọng đúng mức và thiếu hệ thống bài tập thực hành chuyên sâu.
  • Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên mầm non: Đa số cán bộ quản lý và giáo viên đều khẳng định sự cần thiết của các kỹ năng thành phần trong PTCTGD nhóm lớp. Tuy nhiên, việc thực hiện tại các cơ sở giáo dục mầm non còn lúng túng, nhất là khâu phân tích tình hình thực tế của trẻ và điều chỉnh chương trình cho phù hợp với văn hóa địa phương.
  • Thực trạng kỹ năng của sinh viên: Kết quả khảo sát sinh viên ngành Giáo dục Mầm non cho thấy kỹ năng PTCTGD nhóm lớp còn ở mức hạn chế. Điểm trung bình ở các kỹ năng đơn lẻ như xác định mục tiêu phát triển theo độ tuổi, thiết kế mạng nội dung - mạng hoạt động, và kỹ năng đánh giá điều chỉnh kế hoạch sau chủ đề đạt mức trung bình và yếu là chủ yếu.
  • Nguyên nhân thực trạng: Do chương trình đào tạo thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa học phần lý thuyết với thực tế tại trường mầm non; chưa có quy trình rèn luyện cụ thể và thiếu bộ tiêu chí (rubric) đánh giá hành vi đạt được của sinh viên trong suốt quá trình đào tạo.

Chương 3: Nội dung, quy trình rèn luyện kỹ năng phát triển chương trình giáo dục nhà trường cho sinh viên ngành Giáo dục mầm non trình độ cử nhân sư phạm

Chương 3 đề xuất hệ thống nội dung, quy trình rèn luyện và tiến hành thực nghiệm sư phạm:

  • Hệ thống kỹ năng chi tiết và bài tập rèn luyện: Luận án cụ thể hóa 5 kỹ năng thành phần cấp độ nhóm lớp thành các thao tác và hệ thống bài tập thực hành tương ứng:
    1. Kỹ năng phân tích tình hình nhóm lớp: Thu thập, phân tích thông tin về đặc điểm tâm sinh lý trẻ, điều kiện cơ sở vật chất nhóm lớp, nhu cầu của phụ huynh và đặc điểm văn hóa địa phương.
    2. Kỹ năng xác định mục tiêu giáo dục nhóm lớp: Chuyển hóa mục tiêu chương trình khung quốc gia thành mục tiêu năm học, mục tiêu chủ đề và mục tiêu hoạt động phù hợp với khả năng thực tế của trẻ trong lớp.
    3. Kỹ năng thiết kế chương trình giáo dục nhóm lớp: Thiết kế hệ thống chủ đề (chủ đề lớn, chủ đề nhánh), xây dựng mạng nội dung, mạng hoạt động, phân bổ thời gian và lập kế hoạch giáo dục theo tuần, ngày.
    4. Kỹ năng thực hiện chương trình giáo dục nhóm lớp: Tổ chức các hoạt động học tập, vui chơi, lao động, chăm sóc sinh hoạt hàng ngày theo hướng tích hợp và lấy trẻ làm trung tâm; tạo môi trường giáo dục linh hoạt.
    5. Kỹ năng đánh giá, điều chỉnh chương trình giáo dục nhóm lớp: Quan sát, ghi chép, sử dụng công cụ đánh giá sự phát triển của trẻ sau từng ngày/tuần/chủ đề; phân tích nguyên nhân để điều chỉnh mục tiêu, nội dung hoặc biện pháp tổ chức cho phù hợp.
  • Quy trình rèn luyện kỹ năng: Xây dựng quy trình gồm các bước chuẩn bị, hướng dẫn lý thuyết, giao bài tập rèn luyện, tổ chức thực hành trên lớp học phần, vận dụng thực tế trong đợt THSP/TTSP, kiểm tra đánh giá bằng rubric và điều chỉnh phản hồi.
  • Tổ chức thực nghiệm sư phạm:
    • Thiết kế kế hoạch thực nghiệm, phân bố mẫu sinh viên tham gia rèn luyện theo quy trình mới.
    • Đánh giá kết quả qua các lần luyện tập đối với từng kỹ năng thành phần.
    • Số liệu thống kê xử lý trên phần mềm Excel 2016 (kiểm định sự sai khác điểm trung bình giữa các lần rèn luyện, phân tích phương sai, tính giá trị Mod của các mức độ kỹ năng) cho thấy sự tiến bộ rõ rệt có ý nghĩa thống kê của sinh viên sau quá trình rèn luyện, khẳng định tính khả thi và hiệu quả của quy trình.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Bổ sung và hoàn thiện hệ thống lý luận về PTCTGD nhà trường mầm non vào nội dung học phần "Phát triển chương trình giáo dục mầm non" trong chương trình đào tạo cử nhân sư phạm.
  • Xác định và chuẩn hóa cấu trúc 5 kỹ năng thành phần của kỹ năng PTCTGD nhà trường ở cấp độ nhóm lớp dành cho giáo viên mầm non.
  • Làm phong phú thêm lý luận về rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm mầm non thông qua việc xây dựng cấu trúc kỹ năng phức hợp và quy trình rèn luyện tích hợp đa kênh (học phần chuyên môn, RLNVSPTX, THSP và TTSP).

Về mặt thực tiễn:

  • Xây dựng hệ thống bài tập thực hành rèn luyện kỹ năng PTCTGD nhóm lớp gắn liền với thực tiễn trường mầm non.
  • Xây dựng bộ công cụ đánh giá (rubric) mô tả hành vi theo các mức độ đạt được đối với từng kỹ năng thành phần của sinh viên.
  • Chứng minh tính ứng dụng và hiệu quả thực tế của quy trình rèn luyện thông qua thực nghiệm sư phạm tại các cơ sở đào tạo đại học.

Khuyến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: Cần ban hành hướng dẫn cụ thể về chuẩn đầu ra liên quan đến năng lực PTCTGD nhà trường cho ngành Giáo dục Mầm non; tiếp tục hoàn thiện khung chương trình đào tạo giáo viên.
  • Đối với các trường đại học đào tạo cử nhân mầm non: Tích hợp nội dung rèn luyện kỹ năng PTCTGD nhà trường vào chuẩn đầu ra; kết nối chặt chẽ giữa học phần lý thuyết với các đợt THSP và TTSP tại trường mầm non; sử dụng rubric đánh giá chuẩn hóa.
  • Đối với các cơ sở giáo dục mầm non: Tạo điều kiện cho giáo viên và sinh viên thực tập chủ động phân tích tình hình nhóm lớp, linh hoạt xây dựng và điều chỉnh kế hoạch giáo dục theo nguyên tắc lấy trẻ làm trung tâm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Luận án tập trung chuyên sâu vào kỹ năng PTCTGD nhà trường ở cấp độ nhóm lớp của giáo viên mầm non, chưa đi sâu vào quy trình phát triển chương trình ở cấp độ toàn trường của cán bộ quản lý. Địa bàn khảo sát và thực nghiệm được lựa chọn theo mẫu đại diện tại ba trường đại học lớn và các tỉnh/thành phố trọng điểm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục mở rộng nghiên cứu nội dung và quy trình bồi dưỡng kỹ năng PTCTGD cấp độ toàn trường cho cán bộ quản lý giáo dục mầm non; mở rộng quy mô thực nghiệm trên nhiều đối tượng đào tạo khác nhau; xây dựng hệ thống học liệu số hóa và bài tập tương tác trực tuyến hỗ trợ sinh viên tự rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp.

Giá trị tham khảo

  • Đối với giảng viên và nghiên cứu sinh, học viên cao học: Công trình là tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy học phần "Phát triển chương trình giáo dục mầm non", lý luận giáo dục mầm non, phương pháp rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên và thiết kế công cụ đo lường đánh giá năng lực nghề nghiệp.
  • Đối với cán bộ quản lý giáo dục mầm non: Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để chỉ đạo chuyên môn tại các trường mầm non, xây dựng tiêu chí đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp tại Tiêu chí 4 (Xây dựng kế hoạch nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em).
  • Đối với sinh viên sư phạm mầm non: Luận án cung cấp cẩm nang thực hành, hệ thống bài tập tình huống và các bước cụ thể để thiết kế, thực hiện, điều chỉnh kế hoạch giáo dục nhóm lớp khi tham gia THSP, TTSP và sau khi tốt nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm phát triển chương trình giáo dục nhà trường mầm non được luận án định nghĩa như thế nào? Theo luận án, phát triển chương trình giáo dục nhà trường mầm non là quá trình làm thay đổi một hoặc một số vấn đề của CTGDMN quốc gia và CTGDMN địa phương (nếu có) nhằm tạo ra một chương trình giáo dục phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường mầm non, đáp ứng sự phát triển của trẻ em trong nhà trường đó.

2. Hệ thống kỹ năng phát triển chương trình giáo dục nhà trường cấp độ nhóm lớp gồm những kỹ năng nào? Hệ thống gồm 5 kỹ năng thành phần:

  1. Kỹ năng phân tích tình hình nhóm lớp;
  2. Kỹ năng xác định mục tiêu giáo dục nhóm lớp;
  3. Kỹ năng thiết kế chương trình giáo dục nhóm lớp;
  4. Kỹ năng thực hiện chương trình giáo dục nhóm lớp;
  5. Kỹ năng đánh giá, điều chỉnh chương trình giáo dục nhóm lớp.

3. Các cấp độ phát triển chương trình trong nhà trường mầm non được phân chia ra sao? Luận án xác định 3 cấp độ PTCT trong nhà trường mầm non gồm:

  • Cấp độ nhà trường: Do Ban giám hiệu trực tiếp xây dựng, chỉ đạo, quản lý dựa trên mục tiêu chiến lược và điều kiện tổng thể của trường.
  • Cấp độ khối lớp: Do Tổ trưởng chuyên môn phụ trách xây dựng theo đặc điểm độ tuổi (nhà trẻ, mẫu giáo bé, nhỡ, lớn).
  • Cấp độ nhóm lớp: Do giáo viên mầm non trực tiếp xây dựng và thực hiện dựa trên đặc điểm cụ thể của trẻ trong nhóm lớp.

4. Căn cứ pháp lý nào quy định giáo viên mầm non phải tham gia phát triển chương trình nhà trường? Căn cứ được quy định tại phần Hướng dẫn thực hiện của CTGDMN (Thông tư số 17/2009/TT-BGDĐT, Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT, Thông tư số 01/VBHN-BGDĐT) và Tiêu chuẩn 2, Tiêu chí 4 của Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non (Thông tư số 26/2018/TT-BGDĐT), trong đó mức Tốt yêu cầu giáo viên "Tham gia phát triển chương trình giáo dục nhà trường; hỗ trợ đồng nghiệp trong xây dựng kế hoạch chăm sóc, giáo dục...".

5. Luận án đã sử dụng công cụ và phương pháp thống kê nào để xử lý dữ liệu thực nghiệm? Luận án sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2016 để tính toán các đại lượng thống kê mô tả (điểm trung bình, phương sai, giá trị Mod của các mức độ kỹ năng) và thực hiện kiểm định sự sai khác ($t$-test) về điểm trung bình giữa các lần rèn luyện nhằm đánh giá sự tiến bộ của sinh viên.

Kết luận

Luận án của tác giả Phạm Thị Huyền đã giải quyết khoảng trống trong đào tạo cử nhân sư phạm mầm non bằng việc xác lập hệ thống 5 kỹ năng thành phần của kỹ năng PTCTGD nhà trường ở cấp độ nhóm lớp. Đề tài đã xây dựng thành công nội dung, hệ thống bài tập thực hành, rubric đánh giá và quy trình rèn luyện tích hợp qua các học phần chuyên môn cùng các đợt thực hành, thực tập sư phạm. Kết quả thực nghiệm sư phạm và xử lý số liệu thống kê đã khẳng định tính khả thi và giá trị ứng dụng thực tiễn của quy trình trong việc nâng cao năng lực nghề nghiệp cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non.