phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cở sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Chƣơng 2: Các biện pháp rèn luyện kĩ năng hệ thống hoá kiến thức. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 69 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Cơ sở lí luận của đề tài 1. Khái niệm kĩ năng hệ thống hóa kiến thức 1. Hệ thống hóa kiến thức - Hệ thống: là khái niệm cơ bản nhất của lý thuyết hệ thống, nó đƣợc hình thành và phát triển trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử triết học. Ở thế kỷ XIX, Hegel đã giải thích một cách biện chứng lịch sử phát triển của sự vật, hiện tƣợng nhƣ là một quá trình năng động.
Quan điểm lý thuyết này đã đƣợc L. Bertalanffy - nhà sinh vật học sử dụng cho các lĩnh vực nghiên cứu đƣợc gọi là “hệ thống lý thuyết chung” nhƣ một lĩnh vực đa ngành. Khái niệm “Hệ thống” là khái niệm cơ bản nhất của lý thuyết hệ thống. Hiện nay có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm Hệ thống.
Bertalanffy xác định: “Hệ thống là tập hợp các yếu tố liên kết với nhau, tạo thành một chỉnh thể thống nhất và tƣơng tác với môi trƣờng” [25]. Hoàng Tụy đã định nghĩa “Hệ thống tức là một tổng thể gồm nhiều yếu tố (bộ phận) quan hệ và tƣơng tác với nhau và với môi trƣờng xung quanh một cách phức tạp” [22]. Theo Dƣơng Tiến Sỹ, khái niệm hệ thống đƣợc hiểu là “Một tổ hợp các yếu tố cấu trúc liên quan chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể, trong đó mỗi quan hệ qua lại giữa các yếu tố cấu trúc đã làm cho đối tƣợng trở thành một chỉnh thể trọn vẹn” [19]. Theo Từ điển tiếng Việt, “Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất” [23].
Nhìn chung, mọi sự vật, hiện tƣợng đều tồn tại trong những hệ thống nhất định, có nghĩa là các hệ thống tồn tại một cách khách quan. Tuy nhiên, định nghĩa Hệ thống lại mang tính chủ quan tùy theo từng cách tiếp cận, điều đó giải thích vì sao có nhiều định nghĩa khác nhau về Hệ thống. 70 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về “Hệ thống”, nhƣng những định nghĩa đó đều có những điểm chung đó là tập hợp những yếu tố liên hệ với nhau, tạo thành sự thống nhất ổn định và tính chỉnh thể có những thuộc tính và tính quy luật tổng hợp. Điều cơ bản nhất của hệ thống đó là các yếu tố liên hệ và quan hệ với nhau theo những quy luật xác định của tự nhiên.
Chính những mối quan hệ này đã tạo nên những tính chất khác nhau của các hệ thống. - Hệ thống hóa kiến thức: là việc mà ngƣời ta làm cho các sự vật, hiện tƣợng, đối tƣợng trở nên có hệ thống. Trong dạy học, khi học nội dung nào đó ngƣời ta xâu chuỗi các nội dung lại thành một tổ hợp hệ thống logic gọi là Hệ thống hóa kiến thức. Việc hệ thống hoá kiến thức phải dựa trên quan điểm tiếp cận hệ thống và đƣợc trình bày theo một logic nhất định.
Hoạt động tƣ duy hệ thống hoá đƣợc thực hiện trong quá trình học tập dƣới hai hình thức: + Phân chia toàn thể các đối tƣợng riêng lẻ nào đó ra các nhóm hoặc các lớp nhất định. + Xếp đặt tài liệu học tập vào các hệ thống nhất định nào đó. Kỹ năng - Kĩ năng: là khả năng thực hiện một công việc nhất định, trong một hoàn cảnh, điều kiện nhất định, để đạt đƣợc một chỉ tiêu nhất định [23]. Thực chất của sự hình thành kỹ năng học tập là tạo điều kiện cho học sinh nắm vững một hệ thống phức tạp, với các thao tác nhằm làm biến đổi và sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong nhiệm vụ học tập và đối chiếu chúng với hành động cụ thể.
Vì vậy, muốn hình thành kỹ năng (chủ yếu là kỹ năng học tập) cho học sinh, thì giáo viên cần: + Giúp học sinh biết cách tìm tòi để nhận ra yếu tố đã biết, yếu tố phải tìm và mối quan hệ giữa chúng. + Giúp học sinh hình thành một mô hình khái quát để giải quyết các bài tập, đối tƣợng cùng loại. 71 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Xác lập mối liên quan giữa bài tập mô hình khái quát và các kiến thức tƣơng ứng. - Kĩ năng hệ thống hóa kiến thức trong học tập: là khả năng vận dụng thành thạo các thao tác tƣ duy để sắp xếp kiến thức đã học vào những trật tự logic chặt chẽ khác nhau tùy theo mục đích hệ thống.
Phân loại các kỹ năng hệ thống hóa kiến thức trong quá trình dạy học 1. Phân loại theo kí hiệu sơ đồ - Hình vẽ lƣợc. - Hệ thống hóa theo nội dung. + Mô hình hóa cấu trúc.
+ Sơ đồ xích, chu trình. + Sơ đồ nhánh, sơ đồ cành cây. - Sử dụng bản đồ tƣ duy. Phân loại theo nội dung 1.
Phân loại theo các khâu của quá trình dạy học - Nghiên cứu tài liệu mới. - Củng cố, khái quát kiến thức. - Kiểm tra đánh giá. Phân loại theo mục tiêu dạy học - So sánh.
Phân loại theo mức độ hoàn thiện kiến thức - Sơ đồ khuyết thiếu. 72 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Vai trò của kĩ năng hệ thống hóa kiến thức Trong dạy học, việc hệ thống hóa kiến thức đƣợc sử dụng để giáo viên hệ thống một nội dung nào đó. Đồng thời, giáo viên tổ chức cho học sinh nghiên cứu các nguồn tài liệu và diễn đạt những thông tin đọc đƣợc, gia công nó theo một hƣớng nhất định để rút ra đƣợc những mối quan hệ có tính quy luật giữa các sự vật, hiện tƣợng. Vì vậy, trong quá trình dạy học việc hệ thống hoá kiến thức giúp cho học sinh rèn luyện đƣợc những phẩm chất trí tuệ sau: - Khi ghi chép thông tin, đọc thông tin và ôn bài dƣới dạng hệ thống hoá sẽ tiết kiệm đƣợc thời gian học tập.
- Hệ thống hoá kiến thức giúp ngƣời học tăng cƣờng tập trung và nhận biết thông tin chính của bài học. - Hệ thống hoá kiến thức giúp ngƣời học cải thiện đƣợc sức sáng tạo và trí nhớ, nhờ khả năng tập trung vào những từ khóa thiết yếu. - Hệ thống hoá kiến thức giúp ngƣời học tạo mối liên kết mạch lạc, tối ƣu giữa các vấn đề cần học. - Hệ thống hoá kiến thức đòi hỏi học sinh khả năng khái quát hóa, đồng thời phải có trình độ nhận hiểu biết nhất định về kiến thức đó.
Nhƣ vậy, dùng hệ thống hoá kiến thức không những giúp học sinh ôn tập mà còn kiểm tra đƣợc trình độ, thói quen tƣ duy của ngƣời học khi giáo viên yêu cầu các em tự hệ thống hoá kiến thức một phạm vi kiến thức nào đó. - Hệ thống hoá kiến thức chỉ ra đƣợc sự liên hệ giữa các nội dung kiến thức theo một lƣợc đồ nhất định giúp học sinh ghi nhớ và tái hiện bài tốt. - Hệ thống hoá kiến thức giúp học sinh rèn luyện kỹ năng đọc sách, tài liệu giáo khoa, phát triển năng lực nhận thức cho học sinh. - Hệ thống hoá kiến thức giúp học sinh sử dụng tài liệu đa dạng, phát triển năng lực tƣ duy logic, tƣ duy hình tƣợng, tƣ duy biện chứng nhằm phát triển năng lực nhận thức, hành động và sáng tạo.
Bởi vì, trong khi tập hệ thống hoá, học sinh phải luôn luôn sử dụng các thao tác tƣ duy khác nhƣ phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, xác lập các mối liên hệ. 73 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Hệ thống hóa kiến thức không những giúp học sinh hình thành đƣợc một kiến thức mới, củng cố những điều đã học, mà còn biết sắp xếp chúng thành một hệ thống chặt chẽ, đồng thời hình thành kiến thức dƣới một góc độ mới, lí giải đƣợc ý nghĩa sâu xa của kiến thức, biết cách diễn đạt ý tƣởng của mình bằng ngôn ngữ của chính mình. - Hệ thống hoá kiến thức giúp học sinh tìm ra quy luật, mối liên hệ giữa các vấn đề, nghĩa là giúp học sinh có khả năng khái quát hóa rút ra kết luận. - Sử dụng phƣơng pháp hệ thống hoá kiến thức, giúp học sinh lĩnh hội đƣợc kiến thức trên cơ sở hoạt động với đối tƣợng, nên tri thức phải chính xác, phản ánh đúng bản chất.
- Hệ thống hoá kiến thức vừa giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức, vừa giúp học sinh nắm vững phƣơng pháp tái tạo cho bản thân kiến thức đó, phát triển năng lực tự học, giúp học sinh có thể tự học suốt đời. Cơ sở thực tiễn của đề tài 1. Đặc trưng cơ bản của môn Sinh học Sinh học là một bộ môn khoa học tự nhiên, nghiên cứu về sự sống trên Trái đất. Những đối tƣợng nghiên cứu này là một dạng vật chất đặc biệt, có cấu trúc phức tạp, đa dạng và phong phú nhƣng lại xuất phát từ một nguồn gốc chung, vận động theo những quy luật chung và gồm nhiều cấp độ tổ chức khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp.
Đối tƣợng nghiên cứu của Sinh học cũng tuân theo các quy luật vận động chung của thế giới khách quan, nó cũng tuân theo các quy luật của các bộ môn khoa học khác nhƣ Vật lý, Toán học, Hóa học. Do vậy, trong hoạt động dạy học Sinh học không thể tách rời kiến thức sinh học với các kiến thức khác nhằm hình thành thế giới quan khoa học đầy đủ, trọn vẹn và thái độ đúng đắn, tích cực với tự nhiên và xã hội. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, Sinh học hiện đại đang bƣớc vào giai đoạn phát triển mạnh. Nội dung và khối lƣợng kiến thức Sinh học ngày càng nhiều, càng phức tạp và có rất 74 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiều sự đổi mới.
Rất nhiều kiến thức trở nên lỗi thời, lạc hậu và có thể thay đổi, vì vậy ngƣời giáo viên Sinh học phải thƣờng xuyên cập nhật kiến thức và bồi dƣỡng trình độ chuyên môn để đáp ứng đƣợc những đòi hỏi của công việc trong thời đại mới. Sinh học cũng là bộ môn khoa học gắn liền với tự nhiên, và có ứng dụng rộng rãi trong đời sống xã hội, sản xuất phục vụ nhu cầu của loài ngƣời.