Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục với đề tài "Rèn luyện cho sinh viên đại học sư phạm kĩ năng đánh giá quá trình trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông", chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Sinh học (mã số: 9140111), được tác giả Nguyễn Thị Hải Yến thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phan Đức Duy và TS. Đặng Thị Dạ Thuỷ tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế (năm 2022).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, đặt trọng tâm vào việc chuyển mạnh từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học. Yêu cầu này được cụ thể hóa trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, đòi hỏi hoạt động đánh giá phải cung cấp thông tin chính xác, kịp thời nhằm định hướng và điều chỉnh hoạt động dạy học. Môn Sinh học trong chương trình 2018 hướng tới hình thành các năng lực đặc thù: năng lực nhận thức Sinh học, năng lực tìm hiểu thế giới sống, và năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn. Việc phát triển các năng lực này đòi hỏi một quá trình tích lũy liên tục qua từng bài học, nơi đánh giá quá trình (ĐGQT) giữ vai trò then chốt trong việc thu nhận thông tin phản hồi (TTPH) để rút ngắn khoảng cách giữa trình độ hiện tại của học sinh và mục tiêu cần đạt.

Mặc dù vai trò của ĐGQT đã được khẳng định, thực tiễn dạy học ở Việt Nam nhiều năm qua cho thấy đánh giá tổng kết (ĐGTK) vẫn chiếm vị trí chủ đạo; phương pháp đánh giá còn đơn điệu, chủ yếu sử dụng bài kiểm tra trên giấy để đo lường kiến thức. Thực trạng này bắt nguồn từ nhận thức và kĩ năng thực hành ĐGQT còn hạn chế của giáo viên. Việc bồi dưỡng ngắn hạn cho giáo viên phổ thông chỉ mang tính giải quyết tình thế; giải pháp căn cơ và bền vững là phải hình thành và rèn luyện kĩ năng ĐGQT cho sinh viên sư phạm ngay trong quá trình đào tạo tại các trường đại học sư phạm (ĐHSP).

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu xác định cấu trúc kĩ năng ĐGQT, xây dựng và vận dụng quy trình rèn luyện cho sinh viên các trường sư phạm kĩ năng ĐGQT trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên Sinh học trong các trường ĐHSP.

Giả thuyết khoa học

Nếu xác định được cấu trúc của kĩ năng ĐGQT, từ đó xây dựng và vận dụng được quy trình rèn luyện kĩ năng này thì sẽ phát triển được kĩ năng ĐGQT trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông cho sinh viên ngành sư phạm Sinh học tại các trường ĐHSP.

Nhiệm vụ nghiên cứu

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về ĐGQT và kĩ năng ĐGQT.
  2. Nghiên cứu thực trạng rèn luyện kĩ năng ĐGQT cho sinh viên ngành sư phạm Sinh học tại các trường ĐHSP.
  3. Phân tích cấu trúc kĩ năng ĐGQT trong dạy học Sinh học.
  4. Xây dựng quy trình, đề xuất biện pháp rèn luyện kĩ năng ĐGQT cho sinh viên ngành sư phạm Sinh học.
  5. Xây dựng tiêu chí và công cụ đo lường kĩ năng ĐGQT cho sinh viên ngành sư phạm Sinh học.
  6. Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của quy trình và biện pháp rèn luyện kĩ năng ĐGQT cho sinh viên ngành sư phạm Sinh học tại các trường ĐHSP.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Kĩ năng ĐGQT của sinh viên sư phạm Sinh học; quy trình, biện pháp rèn luyện, tiêu chí đánh giá kĩ năng ĐGQT của sinh viên sư phạm Sinh học tại các trường ĐHSP.
  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình rèn luyện kĩ năng dạy học cho sinh viên ngành sư phạm Sinh học.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát thực trạng được thực hiện trên 285 sinh viên ngành sư phạm Sinh học tại 05 cơ sở đào tạo (Trường ĐHSP Hà Nội, Trường ĐHSP – Đại học Huế, Trường ĐHSP – Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Sài Gòn, Trường ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh). Quá trình thực nghiệm sư phạm được tiến hành đối với sinh viên năm thứ 3 và năm thứ 4 ngành sư phạm Sinh học tại Trường ĐHSP – Đại học Huế và Trường ĐHSP – Đại học Đà Nẵng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

Thuật ngữ ĐGQT (formative assessment) xuất hiện từ năm 1967 trong nghiên cứu của Michael Scriven khi phân biệt với ĐGTK. Năm 1971, Benjamin Bloom đưa ĐGQT vào mô hình học tập thành thạo (mastery learning). Năm 1998, Paul Black và Dylan Wiliam công bố công trình phân tích tổng hợp từ 250 nghiên cứu, làm sáng tỏ toàn diện khái niệm, vai trò, chiến lược thực hiện và chứng minh ĐGQT giúp cải thiện thành tích học tập của học sinh. Năm 2002, Broadfoot và cộng sự đề xuất thuật ngữ "đánh giá vì học tập" (assessment for learning). Đến năm 2004 và 2009, Black và Wiliam hoàn thiện mô hình ĐGQT xoay quanh 03 câu hỏi cốt lõi: Người học cần hướng tới điều gì? Người học đang ở đâu? Làm sao để người học đạt được mục tiêu học tập?

Các công trình tiếp theo của Popham, Nicol, Hattie và Timperley, McCallum S.M tiếp tục khẳng định vai trò của ĐGQT đối với việc nâng cao chất lượng học tập và năng lực tự điều chỉnh của học sinh. Trong bộ môn Sinh học, nghiên cứu của Olga Gioka (2007) và Martin Granbom (2016) tại Thụy Điển đã chỉ ra hiệu quả của ĐGQT trong việc nâng cao kết quả học tập và năng lực tư duy.

Về phương diện rèn luyện kĩ năng ĐGQT cho sinh viên sư phạm và giáo viên, Sluijsmans và cộng sự (2002) nghiên cứu việc sử dụng đánh giá đồng đẳng; Graham (2005) nghiên cứu vai trò làm mẫu của giảng viên kết hợp phỏng vấn sâu; Maclellan (2004), Otero & Nathan (2008) phân tích khung khái niệm của sinh viên; Buck (2010) phối hợp bài giảng hướng dẫn với nghiên cứu trường hợp, nghiên cứu thực địa và phản hồi liên tục; Su Gao (2019) xác định ảnh hưởng của tương tác giữa giảng viên và sinh viên; Lovorn (2011) ứng dụng rubric trong rèn luyện kĩ năng đánh giá; Box (2015) và Birt cùng cộng sự (2017) phát triển mô hình thực hành đánh giá cá nhân dựa trên 04 yếu tố (mục đích, lập kế hoạch, thực hiện, tự phản ánh).

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

Chính sách đánh giá giáo dục tại Việt Nam đã có sự chuyển dịch rõ rệt qua các văn bản quy phạm: từ các quy định chú trọng điểm số trước năm 2015 (Quyết định 40/2006/QĐ-BGDĐT, Quyết định 51/2008/QĐ-BGDĐT, Thông tư 58/2011/TT-BGDĐT) sang định hướng đánh giá vì sự tiến bộ của người học (Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT và Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT ở cấp tiểu học; Thông tư 26/2020/TT-BGDĐT và Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT ở cấp trung học). Chuẩn nghề nghiệp giáo viên (Thông tư 30/2009/TT-BGDĐT và Thông tư 20/2018/TT-BGDĐT) cũng đặt yêu cầu cụ thể về năng lực kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.

Nhiều tác giả trong nước đã phản ánh thực trạng chiếm ưu thế của ĐGTK như Hayden và Lê Ngọc Lan (2013), Hayden và Lâm Quang Thiệp (2010), Đào Hoa Mai và cộng sự (2013), Nguyễn Minh Hồng (2011); các yếu tố cản trở ĐGQT được Nguyễn Hoàng Tiên (2020) và Ma Hồng Anh (2021) phân tích. Một số nghiên cứu ứng dụng các kĩ thuật ĐGQT cụ thể đã được triển khai bởi Trần Thị Ngọc Ánh và cộng sự (2020), Nguyễn Phương Chi (2021), Hà Thị Lê Na và cộng sự (2021), Nguyễn Văn Hồng và Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2021). Về rèn luyện kĩ năng dạy học và đánh giá cho sinh viên sư phạm Sinh học, có các công trình của Phan Đức Duy (1999 - bài tập tình huống sư phạm), Đỗ Thị Tố Như (2014 - kĩ năng sử dụng câu hỏi), Trương Thị Thanh Mai (2016 - bài học vi mô), Đào Hoa và Phạm Nhung (2014 - sử dụng rubric), Nguyễn Thị Việt Nga (2016 - đánh giá năng lực khoa học theo PISA), Phạm Thị Phương Anh (2020 - thiết kế câu hỏi trắc nghiệm khách quan).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Các nghiên cứu trong nước về ĐGQT trước đây chủ yếu dừng lại ở việc áp dụng thử nghiệm các kĩ thuật, công cụ đơn lẻ trong dạy học môn học, hoặc khảo sát nhận thức chung mà chưa mô hình hóa một cách tường minh cấu trúc kĩ năng ĐGQT chuyên biệt cho môn Sinh học. Các nghiên cứu quốc tế về đào tạo giáo viên phần lớn chỉ dừng lại ở việc đánh giá sự thay đổi nhận thức mà chưa lượng hóa cụ thể mức độ đạt được của kĩ năng thông qua các công cụ đo lường chuẩn hóa. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách: xác định cấu trúc kĩ năng ĐGQT trong dạy học Sinh học, xây dựng quy trình rèn luyện mang tính hệ thống gắn với hệ thống phiếu hoạt động, đồng thời thiết lập bộ rubric, thang đo 5 mức độ và đường phát triển kĩ năng để đo lường, kiểm chứng thực nghiệm sự tiến bộ của sinh viên sư phạm.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Khái niệm và đặc điểm ĐGQT: Tiếp cận theo định nghĩa của FAST (Mỹ), Cowie & Bell (1996), Black & Wiliam (2009). ĐGQT là hoạt động diễn ra liên tục trong suốt quá trình dạy học nhằm thu thập TTPH cho cả giáo viên và học sinh để kịp thời điều chỉnh việc dạy và học.
  • Lý thuyết về thông tin phản hồi (TTPH): Dựa trên nghiên cứu của Sadler (1989), TTPH thể hiện khoảng cách giữa trình độ hiện tại của người học với mục tiêu giáo dục. Luận án vận dụng phân loại 05 mức độ phản hồi của Nyquist (2003): (1) Phản hồi yếu, (2) Phản hồi trung bình, (3) Phản hồi cải thiện yếu, (4) Phản hồi cải thiện trung bình, (5) Phản hồi cải thiện mạnh.
  • Khung lý thuyết thực hiện ĐGQT của Wiliam và Thompson (2007): Xây dựng trên 03 quá trình dạy học và 05 chiến lược trung tâm:
Quá trình dạy học Vai trò của Giáo viên Vai trò của Người học Vai trò của Bạn học
Thiết lập điểm đích Làm rõ mục tiêu và tiêu chí thành công Hiểu rõ mục tiêu và tiêu chí thành công Hiểu và chia sẻ mục tiêu, tiêu chí thành công
Xác định vị trí hiện tại của người học Thiết kế và tổ chức hoạt động thảo luận, nhiệm vụ học tập để thu thập bằng chứng Thúc đẩy tính chủ động và trách nhiệm cá nhân Hướng dẫn, giúp đỡ bạn học
Xây dựng con đường đạt tới đích Cung cấp TTPH định hướng người học Tự điều chỉnh quá trình học tập Hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
  • Cấu trúc kĩ năng đánh giá: Tham chiếu mô hình cấu trúc kĩ năng của Schafer (1991), Christoforidou và cộng sự (2014), Stiggins (2010).
  • Mô hình rèn luyện kĩ năng: Vận dụng mô hình EDUCARE gồm 08 thành tố của Geoff Petty (2009): Giải thích, Thực hiện chi tiết, Sử dụng, Kiểm tra và sửa chữa, Bản ghi nhớ, Ôn tập, Đánh giá, Truy vấn.
  • Thang đo mức độ phát triển kĩ năng: Kế thừa thang đo 05 mức độ của Dreyfus (2004): (1) Người mới (Novice), (2) Sơ cấp (Advanced Beginner), (3) Có năng lực (Competent), (4) Thành thạo (Proficient), (5) Chuyên gia (Expert).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân tích các văn bản quy phạm, tài liệu lí luận về ĐG, ĐGQT, kĩ năng dạy học; khảo sát khung chương trình đào tạo cử nhân ngành Sư phạm Sinh học năm 2018 của 05 trường ĐHSP (ĐHSP Hà Nội, ĐHSP – Đại học Huế, ĐHSP – Đại học Đà Nẵng, Đại học Sài Gòn, ĐHSP TP. Hồ Chí Minh).
  • Phương pháp điều tra sư phạm: Khảo sát thực trạng nhận thức và kĩ năng ĐGQT của 285 sinh viên ngành Sư phạm Sinh học thông qua bảng hỏi (kết hợp phiếu in trên giấy và phiếu trực tuyến).
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các nhà nghiên cứu, giảng viên giàu kinh nghiệm về tính hợp lý, khả thi của quy trình rèn luyện, hệ thống tiêu chí và bộ công cụ đo lường trước khi triển khai thực nghiệm.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức rèn luyện kĩ năng ĐGQT cho sinh viên năm 3 và năm 4 ngành Sư phạm Sinh học tại Trường ĐHSP – Đại học Huế và Trường ĐHSP – Đại học Đà Nẵng; tiến hành đo lường mức độ phát triển kĩ năng ở các thời điểm trước, trong và sau tác động.
  • Phương pháp thống kê toán học: Dữ liệu định lượng được xử lý bằng phần mềm SPSS 20. Các tham số thống kê được tính toán gồm: Giá trị trung bình (Mean), Trung vị (Median), Yếu vị (Mode), Độ lệch chuẩn (Standard Deviation - StD), Khoảng biến thiên (Range). Mức độ sai khác giữa các lần đo được kiểm định bằng phép kiểm chứng T-test theo cặp (Paired samples T-test) với mức ý nghĩa $p < 0,05$.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 1 tập trung hệ thống hóa cơ sở lí luận về ĐG, ĐGQT, TTPH, kĩ năng ĐGQT và phân tích thực trạng đào tạo tại các trường đại học sư phạm.

Về mặt lí luận, tác giả làm rõ bản chất của ĐGQT là hoạt động thu thập thông tin liên tục và sử dụng TTPH để điều chỉnh hoạt động dạy và học, phân biệt với ĐGTK vốn chỉ tập trung vào việc xếp loại và xác định thành tích tại một thời điểm. Luận án phân tích chi tiết quy trình đánh giá 03 giai đoạn (Lập kế hoạch đánh giá; Thực hiện đánh giá; Xử lý dữ liệu đánh giá và phản hồi), 03 phương pháp đánh giá chủ yếu (phương pháp viết, phương pháp hỏi - đáp, phương pháp quan sát) cùng các công cụ đánh giá chuyên biệt (câu hỏi tự luận mở rộng/giới hạn, câu hỏi trắc nghiệm, bài tập tình huống/thực nghiệm, bảng kiểm, thang đánh giá, rubric, thẻ kiểm tra/thẻ thoát). Kĩ năng ĐGQT được định nghĩa là khả năng thực hiện có hiệu quả hoạt động thu thập thông tin và sử dụng chúng để điều chỉnh quá trình dạy học, giúp rút ngắn khoảng cách giữa trình độ hiện tại của người học với mục tiêu dạy học.

Về mặt thực tiễn, phân tích chương trình đào tạo của 05 trường ĐHSP cho thấy:

Trường Tên học phần liên quan Số tín chỉ (LT/TH) Học kì
ĐHSP Hà Nội Lí luận dạy học Sinh học
Kiểm tra đánh giá trong giáo dục
Phương pháp dạy học Sinh học
Thực hành tại trường sư phạm
2 (2LT)
3 (3LT)
3 (3LT)
3 (3TH)
5
5
6
7
ĐHSP – Đại học Huế Lí luận dạy học Sinh học
Phương pháp dạy học Sinh học
Thực hành dạy học tại trường sư phạm
Đánh giá kết quả giáo dục HS
3 (3LT)
5 (5LT)
2 (2TH)
2 (2LT)
5
6
6
6
ĐHSP – Đại học Đà Nẵng Lí luận dạy học Sinh học
Phương pháp dạy học Sinh học
Thực hành dạy học Sinh học tại trường sư phạm
Kiểm tra đánh giá trong dạy học Sinh học
3 (2LT+1TH)
5 (3LT+2TH)
3 (3TH)
2 (2LT)
5
6
7
7
ĐHSP TP. Hồ Chí Minh Lí luận dạy học Sinh học
Phương pháp dạy học Sinh học 1
Phương pháp dạy học Sinh học 2
Kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học
2 (2LT)
3 (3TH)
2 (2TH)
2 (2LT)
3
5
5
6
Đại học Sài Gòn Kiểm tra đánh giá trong giáo dục
Phương pháp dạy học THCS/THPT 1, 2, 3
Nhóm học phần Thực hành sư phạm THCS/THPT
2 (1LT+1TH)
3(2LT+1TH) - 3(2LT+1TH) - 2(1LT+1TH)
1 - 1 - 1 - 2 - 3 - 4 (TH)
6
3, 5, 6
5, 6, 7

Khảo sát 285 sinh viên ngành Sư phạm Sinh học cho thấy: 68,6% sinh viên bước đầu nêu được định nghĩa ĐGQT, tuy nhiên việc hiểu sâu về bản chất, vai trò của TTPH và kĩ năng thiết kế, sử dụng các công cụ ĐGQT (đặc biệt là bảng kiểm, thang đánh giá, rubric) còn nhiều hạn chế và thiếu đồng đều.

Chương 2. Rèn luyện cho sinh viên Đại học Sư phạm kĩ năng đánh giá quá trình trong dạy học Sinh học ở trường phổ thông

Chương 2 là trọng tâm giải pháp của luận án, trình bày việc mô hình hóa cấu trúc kĩ năng, xây dựng bộ công cụ đo lường và thiết kế quy trình rèn luyện.

  1. Cấu trúc kĩ năng ĐGQT trong dạy học Sinh học: Gồm 04 kĩ năng thành phần cốt lõi:
    • Kĩ năng 1: Xác định mục tiêu ĐGQT (phân tích yêu cầu cần đạt của bài học, chuyển hóa mục tiêu dạy học thành mục tiêu đánh giá).
    • Kĩ năng 2: Xác định phương pháp và thiết kế công cụ ĐGQT (lựa chọn phương pháp viết, quan sát, hỏi - đáp; thiết kế câu hỏi, bài tập, rubric, bảng kiểm, thang đo, thẻ kiểm tra phù hợp với mục tiêu).
    • Kĩ năng 3: Thu nhận và xử lý thông tin phản hồi (tổ chức thu thập thông tin chính thức và không chính thức; ghi chép, phân loại và phân tích dữ liệu định tính/định lượng).
    • Kĩ năng 4: Sử dụng thông tin phản hồi (cung cấp nhận xét mang tính xây dựng, hướng dẫn học sinh tự điều chỉnh và điều chỉnh kế hoạch giảng dạy của giáo viên).
  2. Hệ thống đo lường và đánh giá kĩ năng:
    • Xây dựng thang đo 05 mức độ phát triển kĩ năng dựa trên khung Dreyfus: Mức 1 (Người mới) $\rightarrow$ Mức 2 (Sơ cấp) $\rightarrow$ Mức 3 (Có năng lực) $\rightarrow$ Mức 4 (Thành thạo) $\rightarrow$ Mức 5 (Chuyên gia).
    • Thiết kế bộ Rubric đo lường chi tiết cho từng kĩ năng thành phần và mô tả đường phát triển kĩ năng ĐGQT.
  3. Quy trình và biện pháp rèn luyện:
    • Đề xuất quy trình rèn luyện gồm các bước cụ thể gắn với mô hình EDUCARE.
    • Thiết kế hệ thống phiếu hoạt động rèn luyện chuyên biệt: Phiếu rèn luyện kĩ năng xác định mục tiêu ĐGQT; Phiếu hoạt động rèn luyện kĩ năng xác định phương pháp và thiết kế công cụ; Phiếu hoạt động rèn luyện kĩ năng thu nhận và xử lý TTPH; Phiếu hoạt động rèn luyện kĩ năng sử dụng TTPH.
    • Đề xuất các biện pháp hỗ trợ và kế hoạch tích hợp quy trình rèn luyện vào các học phần Kiểm tra đánh giá, Phương pháp dạy học Sinh học và Thực hành dạy học Sinh học.

Chương 3. Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày việc triển khai thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính hiệu quả và khả thi của quy trình và bộ công cụ rèn luyện đã đề xuất.

  • Đối tượng và nội dung: Thực nghiệm được tiến hành trên sinh viên năm 3 và năm 4 ngành Sư phạm Sinh học tại Trường ĐHSP – Đại học Huế và Trường ĐHSP – Đại học Đà Nẵng. Sinh viên được học tập và thực hành các bài học rèn luyện kĩ năng ĐGQT thông qua hệ thống phiếu hoạt động.
  • Phương thức đo lường: Đánh giá mức độ đạt được của sinh viên qua các lần kiểm tra (trước tác động, trong quá trình tác động qua các bài học, và sau tác động) bằng bộ rubric chuẩn hóa.
  • Kết quả thực nghiệm:
    • Mức độ đạt được ở cả 04 kĩ năng thành phần (xác định mục tiêu; xác định phương pháp và thiết kế công cụ; thu nhận và xử lý TTPH; sử dụng TTPH) đều có sự tăng trưởng rõ rệt qua các lần kiểm tra.
    • Điểm trung bình (Mean) của kĩ năng ĐGQT tổng thể tăng đều qua các giai đoạn tác động, độ lệch chuẩn (StD) có xu hướng thu hẹp, phản ánh sự đồng đều trong tiến bộ của sinh viên.
    • Kết quả kiểm chứng T-test theo cặp (Paired samples T-test) giữa các lần kiểm tra cho giá trị $p < 0,05$, khẳng định sự tiến bộ của sinh viên là có ý nghĩa thống kê, không phải do ngẫu nhiên.
    • Phân tích sự phát triển của các nhóm sinh viên điển hình cho thấy sinh viên từ mức khởi điểm thấp (Mức 1, Mức 2) đã có sự chuyển biến rõ rệt lên mức Có năng lực (Mức 3) và Thành thạo (Mức 4).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm sáng rõ cơ sở lí luận về ĐGQT, TTPH và kĩ năng ĐGQT trong bối cảnh đổi mới dạy học môn Sinh học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực ở trường phổ thông.
  2. Xác định và mô hình hóa tường minh cấu trúc kĩ năng ĐGQT trong dạy học Sinh học gồm 04 kĩ năng thành phần: xác định mục tiêu ĐGQT; xác định phương pháp và thiết kế công cụ ĐGQT; thu nhận và xử lý TTPH; sử dụng TTPH.
  3. Xây dựng thang đo mức độ phát triển kĩ năng ĐGQT gồm 05 mức độ dựa trên thang Dreyfus, bộ rubric đo lường chi tiết và mô hình đường phát triển kĩ năng ĐGQT của sinh viên sư phạm.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh thực trạng về chương trình đào tạo và mức độ nhận thức, kĩ năng ĐGQT của 285 sinh viên sư phạm Sinh học tại 05 trường đại học sư phạm trọng điểm của Việt Nam.
  2. Xây dựng quy trình rèn luyện kĩ năng ĐGQT kèm theo hệ thống các phiếu hoạt động rèn luyện cụ thể cho từng kĩ năng thành phần, có thể vận dụng linh hoạt trong các học phần nghiệp vụ sư phạm.
  3. Chứng minh qua thực nghiệm sư phạm tại Trường ĐHSP – Đại học Huế và Trường ĐHSP – Đại học Đà Nẵng rằng quy trình và biện pháp đề xuất giúp nâng cao rõ rệt kĩ năng ĐGQT của sinh viên với độ tin cậy thống kê cao ($p < 0,05$).

Khuyến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với các cơ sở đào tạo giáo viên: Cần điều chỉnh đề cương chi tiết học phần Kiểm tra đánh giá trong giáo dục theo hướng tăng cường thời lượng thực hành; tích hợp nội dung rèn luyện kĩ năng ĐGQT vào các học phần Lí luận và Phương pháp dạy học Sinh học, Thực hành dạy học tại trường sư phạm.
  • Đối với giảng viên: Sử dụng hệ thống phiếu hoạt động và rubric do luận án xây dựng làm công cụ hướng dẫn, giám sát và đánh giá sự tiến bộ của sinh viên trong quá trình rèn luyện nghiệp vụ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi thực nghiệm sư phạm mới chỉ tập trung trên đối tượng sinh viên ngành Sư phạm Sinh học tại 02 cơ sở đào tạo là Trường ĐHSP – Đại học Huế và Trường ĐHSP – Đại học Đà Nẵng.
    • Chương trình đào tạo hiện hành tại hầu hết các trường ĐHSP dành thời lượng cho học phần Kiểm tra đánh giá chủ yếu là lý thuyết (2 tín chỉ), gây khó khăn về mặt quỹ thời gian khi triển khai các hoạt động rèn luyện thực hành chuyên sâu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng quy mô thực nghiệm quy trình rèn luyện sang các trường đại học sư phạm khác trên cả nước.
    • Tiếp tục nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) tác động của quy trình rèn luyện khi sinh viên tham gia thực tập sư phạm tại các trường phổ thông và sau khi tốt nghiệp ra trường công tác.
    • Thử nghiệm và chuyển giao quy trình rèn luyện kĩ năng ĐGQT cho việc bồi dưỡng thường xuyên đối với đội ngũ giáo viên Sinh học đang giảng dạy tại các trường THCS và THPT.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, nhà nghiên cứu: Có thể tham khảo cơ sở lí luận về ĐGQT, khung cấu trúc 04 kĩ năng thành phần, thang đo Dreyfus 5 mức độ và phương pháp thiết kế rubric đo lường năng lực sư phạm.
  • Giảng viên các trường Đại học Sư phạm: Có thể khai thác trực tiếp quy trình rèn luyện, hệ thống phiếu hoạt động thành phần và các kế hoạch bài học mẫu để giảng dạy trong các học phần Kiểm tra đánh giá, Phương pháp dạy học Sinh học và Thực hành sư phạm.
  • Cán bộ quản lý chương trình đào tạo giáo viên: Sử dụng các kết quả phân tích thực trạng chương trình của 05 trường ĐHSP làm căn cứ khoa học để điều chỉnh, bổ sung thời lượng thực hành đánh giá trong khối kiến thức nghiệp vụ.
  • Giáo viên Sinh học tại trường phổ thông: Tham khảo kĩ thuật thiết kế các công cụ ĐGQT (câu hỏi, rubric, bảng kiểm, thang đo, thẻ thoát) và cách thức sử dụng TTPH để đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá theo Chương trình GDPT 2018.

Câu hỏi thường gặp

1. Cấu trúc kĩ năng đánh giá quá trình trong dạy học Sinh học được luận án xác định gồm những thành phần nào?

Cấu trúc kĩ năng ĐGQT trong luận án gồm 04 kĩ năng thành phần:

  1. Kĩ năng xác định mục tiêu ĐGQT.
  2. Kĩ năng xác định phương pháp và thiết kế công cụ ĐGQT.
  3. Kĩ năng thu nhận và xử lý thông tin phản hồi.
  4. Kĩ năng sử dụng thông tin phản hồi.

2. Luận án sử dụng khung lý thuyết nào để xây dựng thang đo mức độ phát triển kĩ năng của sinh viên?

Luận án kế thừa thang đo mức độ phát triển kĩ năng của Dreyfus (2004) để xây dựng thang đo gồm 05 mức độ từ thấp đến cao:

  • Mức 1: Người mới (thực hiện thao tác máy móc theo chỉ dẫn).
  • Mức 2: Sơ cấp (hiểu cơ bản, thực hiện chuỗi bước đơn giản).
  • Mức 3: Có năng lực (hiểu nền tảng, hoàn thành công việc theo chuẩn chấp nhận được trong bối cảnh).
  • Mức 4: Thành thạo (hiểu sâu sắc, nhìn nhận hành động toàn diện trong bối cảnh).
  • Mức 5: Chuyên gia (hiểu toàn diện, xử lý linh hoạt bằng trực giác).

3. Thực trạng khảo sát 285 sinh viên sư phạm Sinh học tại 05 trường ĐHSP cho thấy điều gì?

Kết quả khảo sát chỉ ra rằng có 68,6% sinh viên bước đầu nêu được định nghĩa về ĐGQT. Tuy nhiên, mức độ nhận thức về vai trò của thông tin phản hồi cũng như kĩ năng thiết kế và sử dụng các công cụ ĐGQT chuyên biệt (như bảng kiểm, thang đánh giá, rubric) của sinh viên còn nhiều hạn chế, chưa đồng đều giữa các nhóm kĩ năng.

4. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại ĐHSP Huế và ĐHSP Đà Nẵng được xử lý và kiểm chứng bằng công cụ thống kê nào?

Số liệu thực nghiệm được xử lý bằng phần mềm SPSS 20 thông qua các tham số: Điểm trung bình (Mean), Trung vị (Median), Yếu vị (Mode), Độ lệch chuẩn (StD), Khoảng biến thiên (Range). Hiệu quả của quy trình rèn luyện được kiểm chứng qua phép kiểm chứng T-test theo cặp (Paired samples T-test) với giá trị $p < 0,05$, khẳng định sự tiến bộ của sinh viên qua các lần kiểm tra là có ý nghĩa thống kê.


Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Thị Hải Yến đã giải quyết một vấn đề vừa có tính cấp thiết lí luận, vừa có giá trị thực tiễn cao trong công cuộc đổi mới giáo dục phổ thông và đào tạo giáo viên tại Việt Nam. Công trình đã làm sáng tỏ cơ sở lí luận về ĐGQT, chuẩn hóa cấu trúc 04 kĩ năng thành phần và xây dựng thành công quy trình rèn luyện gắn với hệ thống phiếu hoạt động chuyên biệt cho sinh viên ngành Sư phạm Sinh học. Thông qua bộ công cụ rubric và thang đo 5 mức độ Dreyfus, nghiên cứu đã chứng minh bằng thực nghiệm sư phạm sự phát triển rõ rệt và có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$) về kĩ năng ĐGQT của sinh viên tại Trường ĐHSP – Đại học Huế và Trường ĐHSP – Đại học Đà Nẵng. Kết quả này cung cấp cơ sở khoa học và tài liệu thực hành quan trọng cho việc nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên Sinh học tại các trường đại học sư phạm hiện nay.