CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ RÀO CẢN MÔI TRƯỜNG TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ RÀO CẢN MÔI TRƯỜNG TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1.1 Khái niệm chung về rào cản trong TMQT 1. Khái niệm Chính sách thương mại quốc tế là một hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, mục tiêu, biện pháp và các công cụ mà các quốc gia sử dụng nhằm điều chỉnh các hoạt động TMQT phù hợp với các lợi thế quốc gia trong từng thời kỳ nhằm đem lại lợi ích cao nhất cho quốc gia từ TMQT. Khi tham gia vào TMQT, các quốc gia sẽ phát huy được những thế mạnh của nước mình, tận dụng được những lợi thế từ thị trường thế giới.
Nhưng mặt khác cũng sẽ bộc lộ những mặt yếu kém và bất lợi của chính quốc gia đó. Do vậy các quốc gia thường phải sử dụng một hệ thống các công cụ để điều chỉnh hoạt động TMQT, đó là các hàng rào thuế quan và phi thuế quan. Thuật ngữ “rào cản” hay “hàng rào” đối với thương mại chỉ được đề cập chính thức trong một Hiệp định của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, đó là TBT. Tuy nhiên, trong Hiệp định này khái niệm hàng rào cũng không được định danh một cách rõ ràng mà chỉ được thừa nhận như một thoả thuận là “các biện pháp cần thiết để đảm bảo chất lượng hàng hoá xuất khẩu của một nước, hoặc để bảo vệ cuộc sống hay sức khoẻ con người, động và thực vật, bảo vệ môi trường hoặc để ngăn ngừa các hoạt động man trá, ở mức độ mà nước đó cho là phù hợp và phải đảm bảo rằng các biện pháp này không được tiến hành với cách thức có thể gây ra phân biệt đối xử một cách tuỳ tiện hoặc không thể biện minh được giữa các nước, trong các điều kiện giống nhau, hoặc tạo ra các hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế, hay nói cách khác phải phù hợp với các quy định của Hiệp 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com định này”.
Vì vậy, theo cách hiểu chung nhất thì rào cản thương mại là bất kì biện pháp hay hành động nào gây cản trở đối với thương mại quốc tế [8]. Khái niệm của rào cản chỉ có tính chất tương đối. Bởi vì thuế quan không phải là rào cản nếu như mức thuế suất là thấp tới mức không gây cản trở TMQT, ngược lại nó sẽ trở thành rào cản nếu mức thuế suất cao một cách thực sự hoặc là cao hơn so với mức thuế suất được áp dụng đối với hàng hoá cùng loại của nước khác. Biện pháp phi thuế quan cũng như vậy, bản thân các biện pháp phi thuế quan không phải là rào cản nếu các biện pháp đó “không đặt ra quá mức cần thiết” và không vi phạm nguyên tắc đối xử quốc gia, nhưng biện pháp phi thuế quan sẽ trở thành hàng rào phi thuế quan nếu như nó gây trở ngại (cản trở) tới thương mại của quốc gia khác.
Như vậy, bản thân các biện pháp thương mại không phải là các rào cản TMQT, nó chỉ trở thành các rào cản TMQT khi được các quốc gia sử dụng nhằm mục đích hạn chế nhập khẩu hàng hoá từ nước khác, bảo hộ thị trường trong nước, hướng dẫn tiêu dùng, phân biệt đối xử trong quan hệ đối ngoại… gây cản trở đối với TMQT. Phân loại Rào cản trong TMQT rất đa dạng, phức tạp và được quy định bởi cả hệ thống luật pháp quốc tế cũng như luật pháp của từng quốc gia, được sử dụng khác nhau ở các nước, các vùng lãnh thổ khác nhau. Vì vậy, chưa có sự thống nhất tuyệt đối về phân loại rào cản trên phạm vi toàn thế giới. Có thể tham khảo một số cách phân loại rào cản theo cách tiếp cận của WTO và báo cáo thường niên của Mỹ như sau: a.
Theo cách tiếp cận của Tổ chức Thương mại thế giới Trong khuôn khổ của WTO, rào cản trong TMQT có thể nhận thấy ở các Hiệp định GATT, TBT, SPS, SCM, AoA, ATC và các quy định quản lý thương mại liên quan đến môi trường, lao động… Dựa trên hệ thống các biện pháp kiểm 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com soát nhập khẩu, rào cản thương mại có thể được chia thành hai nhóm lớn là rào cản thuế quan và phi thuế quan. * Rào cản thuế quan: Thuế quan là một trong những rào cản thương mại phổ biến nhất trong TMQT. Thuế quan được áp dụng trước hết là nhằm mục đích tăng nguồn thu ngân sách cho chính phủ, sau đó là vì những mục đích khác như ngăn chặn hàng nhập khẩu và bảo vệ hàng trong nước, trả đũa một quốc gia khác, bảo vệ một ngành sản xuất quan trọng hay còn non trẻ của nước mình. Đây là biện pháp mà WTO cho phép sử dụng để bảo hộ thị trường trong nước nhưng phải cam kết ràng buộc với một mức thuế trần nhất định và có lịch trình cắt giảm.
Do vậy trong hầu hết các vòng đàm phán thương mại đa phương và song phương đều nổi lên chủ đề về cắt giảm thuế quan để đẩy nhanh quá trình tự do hoá thương mại. * Rào cản phi thuế quan Rào cản phi thuế quan hay còn gọi hàng rào phi thuế quan là một công cụ linh hoạt để các quốc gia điều chỉnh hoạt động TMQT. Rào cản phi thuế quan không chỉ có ý nghĩa trong việc bảo hộ thị trường nội địa, hướng dẫn tiêu dùng, điều tiết vĩ mô nền kinh tế khá hiệu quả mà còn là công cụ dùng để phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại của một nước dành cho nước “ít thiện cảm” hơn các nước khác. WTO xây dựng định nghĩa về hàng rào phi thuế quan như sau: “Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp phi thuế quan mang tính cản trở đối với thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học hoặc bình đẳng”.
Như vậy, tất cả các rào cản phi thuế quan đều là các biện pháp phi thuế quan, song không phải tất cả các biện pháp phi thuế đều là rào cản phi thuế quan. Các biện pháp phi thuế quan có thể bao gồm các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu, chúng không phải là những rào cản đối với thương mại. Ngoài ra, để xem xét một biện pháp phi thuế quan có phải là một rào cản phi thuế quan hay không, còn phải dựa vào mục đích sử dụng của nó. Ví dụ, có những biện pháp phi thuế quan được 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thực hiện không nhằm gây khó dễ cho các nhà xuất khẩu nước ngoài nhưng việc thực hiện nó vượt quá khả năng đáp ứng của các nhà xuất khẩu, vì vậy vô hình chung biện pháp này đã trở thành một rào cản phi thuế quan trong TMQT và ngược lại.
Rào cản phi thuế quan bao gồm nhiều loại khác nhau, có thể được áp dụng ở biên giới hay nội địa, có thể là biện pháp hành chính và cũng có thể là biện pháp kỹ thuật, có những biện pháp bắt buộc phải thực hiện và có những biện pháp tự nguyện… Chính vì có sự “giao thoa” nhau giữa các loại do đó việc phân loại chi tiết theo một tiêu thức thống nhất là rất khó khăn. Các rào cản phi thuế quan chủ yếu là các biện pháp cấm; giấy phép xuất nhập khẩu; thủ tục hải quan; các rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế; các biện pháp vệ sinh động - thực vật; quy định về thương mại dịch vụ; quy định về đầu tư có liên quan đến thương mại; quy định về sở hữu trí tuệ; quy định về bảo vệ môi trường. Theo cách tiếp cận xây dựng báo cáo thường niên của Mỹ Báo cáo hàng năm của Đại diện thương mại Mỹ cho Tổng thống và Quốc hội Mỹ về rào cản thương mại của nước ngoài có đề cập tới việc phân loại các rào cản TMQT thành các nhóm như: chính sách nhập khẩu; tiêu chuẩn, kiểm tra, nhãn mác và chứng nhận; mua sắm của Chính phủ; trợ cấp xuất khẩu (tài trợ cho xuất khẩu với các điều kiện ưu đãi và trợ cấp đối với xuất khẩu nông sản); bảo hộ sở hữu trí tuệ; các rào cản dịch vụ; các rào cản đầu tư (hạn chế tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài, các hạn chế về tham gia của nhà đầu tư nước ngoài vào các chương trình R&D, các yêu cầu về tỷ lệ xuất khẩu tối thiểu, các hạn chế về chuyển vốn và lợi nhuận ra nước ngoài); các rào cản chống cạnh tranh (bao gồm cả các thực tiễn chống cạnh tranh của các doanh nghiệp Nhà nước cũng như các công ty tư nhân làm hạn chế hoạt động kinh doanh của các công ty Mỹ hay các công ty nước ngoài khác); các rào cản khác (tham nhũng, hối lộ. hoặc các rào cản có ảnh hưởng đến những lĩnh vực đơn lẻ).
Như vậy, Mỹ đã không phân chia rào cản thành rào cản thuế quan và phi thuế quan như WTO mà đưa ra các rào cản trong từng lĩnh vực thương mại cụ thể. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cách tiếp cận này có thể không rõ ràng bằng cách tiếp cận của WTO nhưng nó lại dễ dàng quản lý hơn đối với phạm vi từng quốc gia. Theo cách tiếp cận này, một số nước cũng xây dựng báo cáo về rào cản thương mại của các nước khác đối với nước mình. Sự hình thành của rào cản trong TMQT Rào cản thương mại nhìn chung sẽ đem lại lợi ích cho một nhóm người nhất định tuy rằng có thể gây thiệt hại cho một nhóm người khác, thậm chí một quốc gia.
Chính sự liên quan tới lợi ích từng nhóm người khác nhau cho thấy sự hình thành của rào cản trong TMQT có thể xuất phát từ một trong ba chủ thể sau: - Người lao động và người tiêu dùng Một trong những lý do lớn dẫn tới việc hình thành các rào cản là để bảo vệ người lao động. Trước hết là để bảo vệ người lao động (thuộc ngành được bảo hộ) có công ăn việc làm và sau đó là bảo vệ cho họ có thu nhập ổn định. Người lao động có thể thông qua các nghiệp đoàn để đấu tranh hoặc đòi hỏi Chính phủ hạn chế sản phẩm, doanh nghiệp và kể cả công nghệ có năng suất cao thâm nhập vào thị trường nội địa của họ. Người tiêu dùng cũng có tác động rất lớn đến việc hình thành các rào cản trong TMQT, đặc biệt là các rào cản kỹ thuật, rào cản hành chính.