Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƢỜNG HỢP PHẠM TỘI CÓ TỔ CHỨC 1. PHẠM TỘI CÓ TỔ CHỨC 1. Khái niệm phạm tội có tổ chức Phạm tội có tổ chức lần đầu tiên được đề cập đến trong Thông tư số 442/TTg ngày 19/1/1955 của Thủ tướng Chính phủ. Trong Thông tư này, phạm tội có tổ chức được gọi là "Cướp đường hay trộm có tổ chức", "đánh bị thương có tổ chức".
Tuy nhiên, Thông tư lại không giải thích thế nào là "có tổ chức". Pháp lệnh ngày 21/10/1970 về trừng trị các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa (XHCN) và Pháp lệnh ngày 21/10/1970 về trừng trị các tội xâm phạm sở hữu riêng của công dân, phạm tội có tổ chức chỉ được quy định là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt và không có định nghĩa cụ thể. Điều này gây khó khăn cho các cơ quan áp dụng pháp luật trong việc thực thi hai pháp lệnh trên. Trước thực tế đó, ba ngành Công an, Kiểm sát, Tòa án đã dự thảo Thông tư ngày 16/3/1973 hướng dẫn nhận thức thống nhất về hai pháp lệnh này.
Thông tư đã định hướng nhận thức về khái niệm phạm tội có tổ chức như sau: … Phải xuất phát từ đặc điểm, tình hình phạm tội ở nước ta mà hiểu như thế nào là phạm tội có tổ chức. Đây là một hình thức cộng phạm của hai hay nhiều người, trong đó có một số tên cầm đầu hoặc đóng vai trò chủ chốt, cùng bàn bạc trước việc thực hiện một hoặc nhiều tội phạm nào đó, thủ đoạn phạm tội thường là tinh vi, xảo quyệt, vai trò của từng tên phân công giữa bọn chúng trong nhiều trường hợp có thể không dứt khoát, rõ ràng; Hoặc lợi dụng hay nấp dưới danh nghĩa một tổ chức công khai để bàn bạc về việc thực hiện tội phạm; hoặc có khi chúng không bàn bạc nhau trước, 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhưng do quan hệ công tác hàng ngày nên hiểu ý đồ nhau rồi cùng hành động phạm tội, mặc nhiên cấu kết chặt chẽ. Cần chú ý phân biệt hình thức phạm tội có tổ chức với hình thức cộng phạm thông thường trong đó không có sự bàn bạc, phân công chặt chẽ trước, không có vai trò cầm đầu chủ chốt, thủ đoạn phạm tội đơn giản [63, tr. Như vậy, theo dự thảo thông tư này, phạm tội có tổ chức trước tiên là một hình thức cộng phạm của hai hay nhiều người, trong đó có sự phân công vai trò của từng người cộng phạm, có vai trò cầm đầu, chủ chốt, có sự bàn bạc trước khi thực hiện một hay nhiều tội phạm, thủ đoạn phạm tội thường là tinh vi xảo quyệt.
Sau nhiều lần pháp điển hóa, tại Khoản 3 Điều 17 BLHS 1985 và Khoản 3 Điều 20 BLHS 1999 đều quy định: "phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm". Việc BLHS ghi nhận định nghĩa phạm tội có tổ chức đánh dấu bước phát triển về kỹ thuật lập pháp hình sự, thể hiện thái độ nghiêm khắc của Đảng và Nhà nước trong việc đấu tranh với hình thức đồng phạm có tính nguy hiểm cao này. Tuy nhiên, định nghĩa này vẫn còn chung chung, trừu tượng. Cụm từ "câu kết chặt chẽ" được nhận định không thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
Vì vậy, sau khi BLHS 1985 lần đầu tiên quy định định nghĩa về phạm tội có tổ chức, ngày 16/11/1988 trong Nghị quyết 02/HĐTP hướng dẫn bổ sung Nghị quyết 02/HĐTP ngày 05/01/1986 đã giải thích: Phạm tội có tổ chức phải có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Trong thực tế, sự câu kết này thể hiện dưới các dạng sau đây: a) Những người đồng phạm đã tham gia một tổ chức phạm tội như đảng phái, hội đoàn phản động, băng ổ, nhóm trộm cướp… có những tên chỉ huy, cầm đầu. Tuy nhiên, cũng có khi tổ chức 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phạm tội không có những tên chỉ huy, cầm đầu mà chỉ là sự tập hợp những tên chuyên phạm tội đã thống nhất cùng nhau hoạt động phạm tội. b) Những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch đã thống nhất trước.
c) Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần nhưng đã tổ chức thực hiện tội phạm theo một kế hoạch được tính toán kỹ càng, chu đáo, có chuẩn bị phương tiện hoạt động và có khi còn chuẩn bị cả kế hoạch che giấu tội phạm [65, tr. Nghị quyết ra đời trong bối cảnh có nhiều cách hiểu khác nhau về phạm tội có tổ chức, nên có ý nghĩa thực tiễn to lớn. Tuy nhiên, những hướng dẫn này chỉ nêu lên được những trường hợp điển hình của hình thức đồng phạm có tổ chức. Hướng dẫn còn hạn chế khi chưa khái quát được những dấu hiệu chung của mọi trường hợp phạm tội có tổ chức.
Sau Nghị quyết này, không một văn bản pháp lý nào giải thích về khái niệm phạm tội có tổ chức. Khoản 3 Điều 20 BLHS 1999 kế thừa nguyên vẹn khái niệm phạm tội có tổ chức đã được ghi nhận trong BLHS 1985, vì vậy những hướng dẫn trước đây vẫn có giá trị tham khảo tích cực. Hiện nay, xung quanh khái niệm phạm tội có tổ chức còn có nhiều ý kiến khác nhau về bản chất pháp lý của khái niệm này. - Quan điểm thứ nhất: Phạm tội có tổ chức phải có sự phân công vai trò, nhiệm vụ khác nhau giữa những người cùng tham gia thực hiện tội phạm, trong đó có vai trò cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.
Trước khi thực hiện tội phạm, những người đồng phạm có sự bàn bạc thống nhất về kế hoạch phạm tội một cách kỹ càng, chu đáo. - Quan điểm thứ hai: Không phải trong mọi trường hợp phạm tội có tổ chức nào cũng đều nhất thiết phải có sự phân công vai trò khác nhau giữa những người đồng phạm, hay sự phân công vai trò khác nhau giữa những 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người đồng phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc của hình thức phạm tội có tổ chức. Do vậy, phạm tội có tổ chức có thể là trường hợp đồng phạm giản đơn. - Quan điểm thứ ba: Trong phạm tội có tổ chức, những người đồng phạm phải có sự câu kết với nhau lâu dài, cùng nhau phạm nhiều tội hoặc phạm một tội nhưng nhiều lần.
- Quan điểm thứ tư: Phạm tội có tổ chức phải là hình thức đồng phạm có thông mưu trước, trong đó gồm một nhóm có từ hai người trở lên kết hợp với nhau trước khi phạm tội. Theo chúng tôi, các quan niệm trên về phạm tội có tổ chức là chưa thật sự chính xác. Việc xác định những trường hợp phạm tội có tổ chức cần tránh hai xu hướng là xác định quá rộng hoặc xác định quá hẹp về khái niệm này. Ở quan điểm thứ nhất, các tác giả đã tuyệt đối hóa một mặt của vấn đề được nghiên cứu, đó là vai trò của những người đồng phạm.
Thực tiễn chỉ ra rằng việc phân công vai trò trong phạm tội có tổ chức là một dấu hiệu phổ biến nhưng không bắt buộc, dấu hiệu duy nhất. Và ngoại diên của khái niệm phạm tội có tổ chức là quá hẹp nếu không xem là phạm tội có tổ chức chỉ vì không có sự phân công vai trò người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức. Theo quan điểm thứ hai thì phạm tội có tổ chức có thể là trường hợp đồng phạm giản đơn, tức là không có sự phân công vai trò giữa người cầm đầu chỉ huy và người thực hiện tội phạm. Theo chúng tôi, việc không có dấu hiệu đó thì không thể hiện được "tính có tổ chức" của hình thức đồng phạm đặc biệt này.
Quan điểm này là quá rộng về khái niệm phạm tội có tổ chức. Với quan niệm thứ ba, việc xác định một vụ án đồng phạm nào là phạm tội có tổ chức sẽ rất chặt chẽ. Khi những người đồng phạm câu kết với nhau trong một thời gian dài, cùng nhau phạm nhiều tội hoặc phạm tội nhiều lần họ mới được xác định là phạm tội có tổ chức. Theo quan niệm này, thì chỉ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những vụ án phạm tội do những tổ chức tội phạm dạng "xã hội đen" thực hiện mới có thể được coi là phạm tội có tổ chức.
Như vậy, quan niệm này đã thu hẹp trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với những trường hợp có tính nguy hiểm cao cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm khắc là trường hợp phạm tội có tổ chức như: có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm nhưng chỉ thực hiện một tội phạm [70, tr. Quan niệm thứ tư là quan niệm quá rộng về phạm tội có tổ chức. Nếu quan niệm như vậy sẽ không có sự phân biệt đồng phạm thường và đồng phạm đặc biệt. Điều này sẽ dẫn đến xử lý nghiêm khắc thái quá những người đồng phạm.
Đồng phạm có tổ chức và đồng phạm có thông mưu trước là hai khái niệm có ngoại diên không hoàn toàn đồng nhất. Nội hàm của khái niệm phạm tội có tổ chức chứa đựng những dấu hiệu của khái niệm đồng phạm có thông mưu trước nhưng có thêm những dấu hiệu khác nữa. Xét về tính chất câu kết cũng như tính chất nguy hiểm cho xã hội, thì phạm tội có tổ chức có tính câu kết chặt chẽ hơn và cũng có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn. Vì vậy, căn cứ vào tinh thần của Nghị Quyết số 02/HĐTP ngày 16-11- 1988 hướng dẫn bổ sung Nghị Quyết số 02/HĐTP ngày 5-1-1986 giải thích về "sự câu kết" trong phạm tội có tổ chức và sự phân tích ở trên, chúng tôi cho rằng: phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm đặc biệt.
Trong hình thức đồng phạm này có sự phân công vai trò giữa người thực hành và người cầm đầu, chỉ huy trong việc thực hiện tội phạm. Dấu hiệu phạm một tội nhiều lần, phạm nhiều tội và sự câu kết lâu dài không phải là dấu hiệu bắt buộc của hình thức đồng phạm này. Với quan niệm trên, phạm tội có tổ chức trước hết phải là một hình thức đồng phạm. Do đó, phạm tội có tổ chức phải có những dấu hiệu của đồng phạm.
Đó là phải có từ hai người trở lên cùng cố ý tham gia thực hiện một tội phạm. Tính chất đặc biệt của hình thức đồng phạm này được đặc trưng bởi dấu hiệu "có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng tham gia 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thực hiện tội phạm".