phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc kết cấu thành 03 chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về đồng phạm và quyết định hình phạt trong đồng phạm Chƣơng 2: Quy định của pháp luật hình sự thực định về quyết định hình phạt trong đồng phạm Chƣơng 3: Thực tiễn quyết định hình phạt trong đồng phạm hiện nay và một số giải pháp nâng cao hiệu quả quyết định hình phạt trong đồng phạm. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỒNG PHẠM VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG ĐỒNG PHẠM THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Vài nét về đồng phạm trong luật hình sự 1. Khái niệm, các đặc điểm và ý nghĩa của đồng phạm 1.
Khái niệm đồng phạm Dƣới góc độ khoa học, khái niệm đồng phạm cũng đƣợc các tác giả quan tâm, làm rõ. Hiện nay đang có nhiều quan điểm về khái niệm đồng phạm. Hầu hết các quan điểm đều có điểm chung là đƣa ra khái niệm đồng phạm dựa trên các dấu hiệu của đồng phạm (mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể). Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những quan điểm khác cho rằng khái niệm đồng phạm không những phải phản ánh đƣợc các dấu hiệu đặc trƣng của đồng phạm mà còn phải phản ánh đƣợc các loại ngƣời đồng phạm cũng nhƣ sự tham gia của họ vào việc thực hiện tội phạm.
Do đó, có thể phân thành hai nhóm quan điểm sau: Nhóm quan điểm thứ nhất: Dựa vào các dấu hiệu của đồng phạm: Theo nhóm quan điểm này thì có 3 dạng khái niệm phổ biến là: Thứ nhất: Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Theo khái niệm này thì số lƣợng ngƣời tham gia thực hiện tội phạm phải từ hai ngƣời trở lên và những ngƣời này phải cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Ở đây, khái niệm này đƣợc xây dựng dựa vào dấu hiệu khách quan của đồng phạm. Đây là khái niệm đƣợc quy định tại khoản 1, Điều 17 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điểm hạn chế của quan điểm này là sử dụng thuật ngữ “cùng thực hiện một tội phạm” nên mới chỉ đề cập đƣợc một trƣờng hợp đồng phạm giản đơn, chỉ có ngƣời thực hành mà không đề cập đến trƣờng hợp đồng phạm phức tạp còn có ngƣời tổ chức, ngƣời xúi giục, ngƣời giúp sức. Do vậy, thuật ngữ “cùng thực hiện một tội phạm” không phản ánh hết đƣợc bản chất cũng nhƣ các trƣờng hợp đồng phạm. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ hai: Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự cố ý cùng tham gia thực hiện tội phạm.76] Theo quan điểm này thì số lƣợng ngƣời tham gia thực hiện tội phạm cũng là từ hai ngƣời trở lên và những ngƣời này phải thỏa mãn các điều kiện về chủ thể của tội phạm nhƣ: họ phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và phải có năng lực trách nhiệm hình sự; Ngoài ra, những ngƣời này phải cố ý cùng tham gia thực hiện tội phạm với nhau thì mới đƣợc coi là đồng phạm. Có thể thấy, quan điểm này nhấn mạnh vào dấu hiệu mặt khách quan của đồng phạm và dùng thuật ngữ “tham gia thực hiện tội phạm” thay vì thuật ngữ “thực hiện tội phạm” nhƣ ở quan điểm thứ nhất.
Quan điểm này không những nói rõ về số lƣợng ngƣời tham gia thực hiện tội phạm mà còn nêu rõ điều kiện chủ thể của tội phạm đối với những ngƣời này. Thứ ba: Đồng phạm là sự cố ý cùng tham gia của hai người trở lên vào việc thực hiện tội phạm do cố ý [2, tr. Quan điểm này giống với hai quan điểm trên ở dấu hiệu mặt khách quan của đồng phạm (số lƣợng ngƣời tham gia, mối liên hệ giữa những ngƣời đồng phạm), ngoài ra cũng dùng thuật ngữ “tham gia” nhƣ quan điểm thứ hai. Tuy nhiên, quan điểm này có thêm dấu hiệu mặt chủ quan của đồng phạm là những ngƣời đồng phạm thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.
Quan điểm này có cách diễn giải hơi lủng củng và gây khó hiểu cho ngƣời đọc. Quan điểm này muốn nói rằng: những ngƣời đồng phạm phải có lỗi cố ý khi tham gia vào việc thực hiện tội phạm và họ phải cố ý cùng thực hiện tội phạm, tức là họ phải có sự liên hệ với nhau trong quá trình thực hiện tội phạm. Và nói “Đồng phạm là sự cố ý .” là không đúng, khái niệm này nên diễn đạt theo ý là: Đồng phạm là trƣờng hợp có hai ngƣời trở lên cố ý cùng tham gia thực hiện tội phạm do cố ý. Nói nhƣ vậy ngƣời đọc sẽ dễ hiểu hơn và câu từ cũng không bị lủng củng.
Nhóm quan điểm thứ hai: Dựa vào các dấu hiệu của đồng phạm và các loại ngƣời đồng phạm. Theo đó, đồng phạm là hình thức phạm tội có hai người trở lên cố ý cùng tham gia thực hiện tội phạm do cố ý với vai trò là 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người thực hiện, người xúi giục, người giúp sức hoặc người tổ chức [32, tr. Quan điểm này giống với các quan điểm ở trên về số lƣợng ngƣời tham gia thực hiện tội phạm, lỗi, mối liên hệ giữa những ngƣời đồng phạm. Tuy nhiên khái niệm đồng phạm ở quan điểm này phản ánh đƣợc những loại ngƣời đồng phạm (ngƣời thực hiện, ngƣời tổ chức, ngƣời xúi giục và ngƣời giúp sức).
Quan điểm này không chỉ nêu lên đƣợc trong một vụ đồng phạm có những loại ngƣời đồng phạm nào mà còn sử dụng thuật ngữ “người thực hiện” thay cho thuật ngữ “người thực hành” – thuật ngữ đang đƣợc sử dụng trong BLHS Việt Nam hiện hành; nêu rõ đƣợc các dấu hiệu của đồng phạm mà còn phản ánh đƣợc các loại ngƣời đồng phạm cũng nhƣ các trƣờng hợp đồng phạm. Ngoài ra, quan điểm này đã dùng thuật ngữ “người thực hiện” thay cho thuật ngữ “người thực hành” Vì thực hành có thể đƣợc hiểu theo hai nghĩa: Áp dụng lý thuyết vào thực tế và nghĩa vụ thực hiện. Thuật ngữ “người thực hành” đƣợc sử dụng để chỉ một loại ngƣời đồng phạm đƣợc hiểu theo nghĩa “người thực hiện”. Do đó, việc sửa đổi thuật ngữ “người thực hành” thành “người thực hiện” làm cho thuật ngữ rõ ràng hơn.
Nhƣ vậy, qua việc nghiên cứu các quan điểm khoa học về khái niệm đồng phạm em đƣa ra khái niệm đồng phạm nhƣ sau: Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm cố ý cùng tham gia thực hiện tội phạm do cố ý với vai trò là người thực hiện, người xúi giục, người giúp sức hoặc người tổ chức. Các đặc điểm của đồng phạm * Dấu hiệu thuộc mặt khách quan Trong trƣờng hợp tội phạm đƣợc thực hiện dƣới hình thức đồng phạm thì những vấn đề liên quan phải đƣợc xem xét dƣới góc độ là kết quả tổng hợp từ hành vi của nhiều ngƣời. Để hiểu rõ hơn về bản chất của đồng phạm thì cần bắt đầu từ việc nghiên cứu dấu hiệu về mặt khách quan của đồng phạm. Từ khái niệm về đồng phạm, có thể thấy, về mặt khách quan, đồng phạm luôn có những dấu hiệu bắt buộc là: 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dấu hiệu thứ nhất: Có từ hai ngƣời trở lên và những ngƣời này có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm; Số lƣợng ngƣời tham gia vào việc thực hiện tội phạm là một trong những yếu tố đầu tiên cần xem xét để xác định đây có phải là vụ án đồng phạm hay không.
Bởi đây là yếu tố khách quan bắt buộc và không thể thiếu của đồng phạm. Quan điểm phổ biến và đƣợc công nhận hiện nay đó là số lƣợng ngƣời tham gia vào việc thực hiện tội phạm trong vụ án đồng phạm là từ hai ngƣời trở lên [29, tr. Điều này cũng có nghĩa số lƣợng ngƣời tham gia vào vụ án đồng phạm không bị giới hạn ở mức tối đa. Đây là một quan điểm linh hoạt và phù hợp với thực tiễn, bởi không có một giới hạn chính xác nào có thể đặt ra cho mức tối đa số lƣợng ngƣời tham gia vào vụ án đồng phạm cả.
Mà số lƣợng ít hay nhiều ngƣời tham gia vào việc thực hiện một tội phạm phụ thuộc vào tính chất, quy mô, mục đích hay loại tội phạm mà họ hƣớng đến. Từ việc số lƣợng ngƣời tham gia vào vụ án đồng phạm là từ hai ngƣời trở lên, tức là sẽ có nhiều ngƣời cùng nhau bàn bạc, thống nhất ý chí, chung sức để phối hợp với nhau cùng thực hiện một tội phạm. Do vậy, so với trƣờng hợp phạm tội đơn lẻ thì đồng phạm sẽ gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội hơn và có tính chất nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi trƣờng hợp có nhiều ngƣời tham gia vào việc thực hiện một tội phạm đều là đồng phạm.
Bởi ngoài dấu hiệu về số lƣợng ngƣời tham gia thì những ngƣời đồng phạm còn phải thỏa mãn cả dấu hiệu về điều kiện của chủ thể của tội phạm [39, tr. Cụ thể, chủ thể của tội phạm phải là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định. Ngƣời có năng lực TNHS theo luật hình sự Việt Nam là ngƣời đã đạt độ tuổi chịu TNHS theo Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và không thuộc trƣờng hợp ở tình trạng không có năng lực TNHS theo Điều 21 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Trong một số trƣờng hợp, chủ thể của tội phạm đòi hỏi phải có thêm một số dấu hiệu đặc biệt khác vì chỉ khi thỏa mãn những dấu hiệu đó những ngƣời thực hiện hành vi phạm tội mới đƣợc coi là chủ thể của tội phạm.
Dấu hiệu 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chủ thể đặc biệt không đòi hỏi phải có ở tất cả những ngƣời đồng phạm mà chỉ đòi hỏi ở ngƣời thực hành [29, tr. Về dấu hiệu thứ hai: Những ngƣời này phải cùng thực hiện một tội phạm (cố ý). Trong vụ án đồng phạm đòi hỏi những ngƣời đồng phạm phải có sự liên kết hành động với nhau nhằm cùng tham gia vào việc thực hiện một tội phạm. Nếu thỏa mãn dấu hiệu về số lƣợng ngƣời tham gia và dấu hiệu chủ thể của những ngƣời này mà họ không cùng nhau tham gia vào việc thực hiện một tội phạm thì đó không phải là đồng phạm, mà chỉ đƣợc coi là đồng phạm nếu những ngƣời này cùng thực hiện một tội phạm.