Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG CÁC TRƯỜNG HỢP cụ THÈ 1. Khái niệm, đặc điểm và mục đích, ý nghĩa của việc quỵ định quyết định hình phạt trong các trường hợp cụ thể trong luật hình sự 1. Khải niệm, đặc điếm quyết định hình phạt trong các trường hợp cụ thể trong luật hình sự Lần đàu tiên khái niệm hình phạt được quy định trong Điều 26 Bộ luật hình sự năm 1999, đồng thời tiếp tục được ghi nhận trong Điều 30 Bộ luật hình sự năm 2015. Hình phạt phài gắn liền với tội phạm và là hai nội dung cơ bản trong luật hình sự của mọi quốc gia.
Tội phạm và hình phạt luôn luôn đi liền với nhau, có nghĩa là giữa tội phạm và hình phạt luôn luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và không tách rời nhau. 93], Chừng nào, Nhà nước còn cần đến luật hình sự và hình phạt, thì hình phạt chỉ được áp dụng và chỉ cho phép được áp dụng với tính chất là sự phản ứng Nhà nước và xã hội đối với tội phạm; nó là sự phủ định công khai, quyết liệt của Nhà nước, là sự thế hiện không thể dung thứ của Nhà nước và xã hội đối với các hành vi phạm tội. Còn quyết định theo từ điển tiếng Việt được hiểu là “định ra một cách dứt khoát việc sẽ làm ”, “nêu ra một cách rõ ràng, không thay đôi sau khi đã cân nhắc” [78, tr. Theo đó quyết định hình phạt có thể được hiểu là hoạt động đưa ra hình phạt một cách rõ ràng bao gồm loại hình phạt và khung cụ thể, sau khi đã nghiên cứu cụ thể tội phạm và hành vi phạm tội.
Trong LHS, quyết định hình phạt được xem là một trong hai hoạt động quan trọng, chủ yếu và thể hiện rõ nhất nội dung quyền xét xử của Toà án. 9 Mặt khác xét vê tiên trình tô tụng, quyêt định hình phạt là hoạt động kê tiêp hoạt động định tội danh, sử dụng các căn cứ pháp lý, tính tiến cụ thể trong từng vụ án và kết quà tranh tụng đảm bão đưa ra các hình phạt phù hợp nhất với người phạm tội, có sự phân hoá TNHS cao (đặc biệt trong vụ án đồng phạm), đảm bảo tính công minh và sự công bằng trong các phán quyết. về mặt lập pháp, Bộ luật hình sự hiện hành không quy định cụ thể quyết định hình phạt là gì? Dưới góc độ lý luận, khái niệm quyết định hình phạt được đưa ra như sau: Theo giáo trình luật hình sự Việt Nam - khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả cho rằng: Quyết định hình phạt là việc toà án lựa chọn loại hình phạt cụ thể (bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung) với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định đế áp dụng đối với người phạm tội [4, tr. Theo giáo trình luật hình sự Việt Nam, Đại học luật Hà Nội: Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt (đối với loại hình phạt có các mức khác nhau) trong phạm vi luật định để áp dụng đối với chủ thể chịu trách nhiệm hình sự [74, tr.
Lê Văn Đệ thì cho rằng: Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể [13, tr. Dưong Tuyết Miên đưa ra: Quyết định hình phạt là hoạt động thực tiễn của Toà án (Hội đồng xét xử) được thực hiện sau khi đã xác định được tội danh để định ra X • • • 4 4 4 4 biện pháp xử lý tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị cáo đã thực hiện. Nội dung của hoạt động quyết định • 1 • có thể là miễn trách nhiệm hình sự hoặc có thể là hình phạt 4 4 4 10 miễn hình phạt (trường hợp này, hoạt động quyết định hình phạt chấm dứt tại đây) hoặc nếu Tòa án quyết định áp dụng hình phạt thì hoạt động quyết định hình phạt là việc xác định hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định đối với bị cáo [33, tr. Theo Thạc sĩ Nguyễn Thanh Vũ: Quyết định hình phạt là hoạt động trong giai đoạn xét xứ vụ án hình sự do Tòa án thực hiện nhằm đưa ra biện pháp xử lý thích đáng đối với người phạm tội trên cơ sở quy định pháp luật hình sự và sự tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội [83, tr.19] Có thể thấy, những quan điểm của các học giả trên đều đưa ra những khía cạnh khác nhau về các dấu hiệu nội hàm của quyết định hình phạt, tuy nhiên tác giả cho rằng, để làm rõ và xây dựng khái niệm quyết định hình phạt trong các trường hợp cụ thể cần làm sáng tỏ các đặc điểm sau đây: - Thứ nhất, quyết định hình phạt là hoạt động thực tiễn và thuộc thẩm quyền của Tòa án (Hội đồng xét xử).
Theo Hiến pháp năm 2013, Toà án là cơ quan nhân danh nhà nước thực hiện quyền xét xử, là cơ quan quyền lực của nhà nước duy nhất có nhiệm vụ bảo vệ công lý và lẽ phải [53], Cơ quan nhà nước duy nhất được trao quyền xét xử là Toà án, ngoài Toà án ra không có cơ quan nào có khả năng đưa ra một bản án có hiệu lực pháp luật. Cùng với định tội danh, quyết định hình phạt là một trong những hoạt động trọng tâm giúp Toà án thực hiện quyền và chức năng Hiến định này. Các nội dung tương tự cũng được thể hiện trong các quy định PLHS khi xác định thấm quyền quyết định hình phạt tại Điều 30 BLHS năm 2015 với nội dung “Hình phạt là. do Toà án quyết định áp dụng đổi với.
Điều 50 BLHS năm 2015 với nội dung “Khi quyết định hình phạt, Toà phải căn cứ vào. ” hay Điều 54 BLHS năm 2015 quy định: “Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất. [52], II Giá trị pháp lý của hình phạt trước hêt phải dựa trên thâm quyên của cơ quan ban hành; việc đưa ra một nhận định, quan điểm với nội bao gồm tội danh và hình phạt có thể xuất phát từ các cơ quan khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu hay thực tiễn, tuy nhiên hậu quả pháp lý thực sự chỉ xảy ra khi quyết định về hình phạt được ban hành bởi Toà án. Nói cách khác, hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt có thể được xem xét ở góc độ khác nhau đặc biệt trong việc nghiên cún trao đổi và thào luận về các phương án đối lập khi áp dụng pháp luật; tuy nhiên một cá nhân hoặc pháp nhân thương mại sẽ chỉ bị coi là có tội và phải chịu hình phạt nếu hai hoạt động diễn ra một cách chính thức, đúng quy định pháp luật tại một phiên xét xử bởi Toà án.
- Thứ hai, nội dung quyết định hình phạt trong các trường hợp cụ thể là sự• lựa •••chọn loại hình JLphạt • và xác định • mức hình Aphạt • cụ• thế dựa • trên mức độ• nguy hiểm của hành vi tội phạm. Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiếm của hành vi phạm tội đối với khách thể xâm hại, hậu quả và khả năng gây hậu quả thực tiễn Toà án phải lựa chọn hình phạt cụ thể bao gồm loại hình phạt phù hợp với tội danh đã định và mức hình phạt cụ thể trong từng khung. Việc này phải dựa trên yêu cầu xem xét đày đú khách quan các tình tiết vụ án, đặc biệt là các tình tiết mang yếu tố định khung. Cũng cần lưu ý, "Đa số các khung hình phạt được quy định đều gồm nhiều loại hình phạt chỉnh khác nhau.
Quyết định hình phạt đối với chủ thê chịu 1 • trách nhiệm • hình sự là sự lựa chọn một trong số ••••• các hình phạt chinh và xác định mức hình phạt đổi với loại hình phạt có các mức khác nhau trong khung hình phạt được quy định” [20, tr. Nội dung của quyết định hình phạt trong các trường hợp cụ thể đồng thời có mối liên hệ chặt chẽ với hoạt động định tội danh, là giai đoạn kế tiếp và không tách rời với định tội danh. Việc đưa ra hình phạt trước hết phải căn cứ vào tội danh mà bị cáo bị tuyên; nói cách khác, định tội danh là tiền đề, là 12 điều kiện tiên quyết cho hoạt động quyết định hình phạt. Nếu tội phạm không xảy ra sẽ không có hình phạt và nếu không thể xác định được tội danh cụ thể thì việc đưa ra hình phạt sẽ bị trì hoãn, kéo dài và bất khả thi khi quyết định hình phạt.
Tuy nhiên, nếu chỉ xem xét ở riêng nội dung này thì hình phạt đưa ra chưa thể đáp ứng các yêu cầu về đường lối xử lý, CSHS ờ thời điềm hiện tại của nước ta. Yeu tố toàn diện yêu càu các cơ quan THTT nói chung phải thu thập chứng cứ một cách đầy đủ và Toà án nói riêng phải xem xét tình tiết vụ án một cách thận trọng nhằm đưa ra các quyết định đúng pháp luật, đảm bảo sự công minh, công bằng. Các trường hợp cụ thể được xây dựng trong quá trình pháp điển làm đon giản hoá hoạt động quyết định hình phạt nói chung của Hội đồng xét xử. Điều này xuất phát từ việc học tập kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia khác kết hợp với yêu cầu phòng ngừa do sự thay đổi của tình hình tội phạm.
Các trường hợp cụ thế được giả định thường xảy ra trong thực tiễn thường xuyên phản ánh mong muốn phòng ngừa của nhà nước thông qua sự chênh lệnh mức và khung hình phạt. - Thứ ba, áp dụng trong phạm vi quy định pháp luật: Bất kỳ hành vi nào bị coi là tội phạm theo quy định BLHS chỉ phải chịu chế tài hình sự khi BLHS quy định. Cụ thể: Toà án không thể áp đặt một hình phạt đối với cá nhân hoặc pháp nhân phạm tội, khi hình phạt đó không được quy định hoặc đã huỷ bỏ do yêu cầu của CSHS cần sửa đổi đối với một tội phạm cụ thể. Trừ trường hợp, bị cáo được xem xét xử lý dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và không có khung liền kề sau đó do hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ hoặc mức độ nguy hiểm của tội phạm không đáng kể.
Toà án chỉ được phép đưa ra hình phạt dựa trên khuôn khổ PLHS bao gồm hiệu lực (về không gian, về thời gian), các chế định chung và các tội phạm cụ thể.