Chương 1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẢM BẢO QUYỀN ĐƯỢC XÉT XỬ CÔNG BẰNG 1. Khái quát về Quyền được xét xử công bằng 1. Khái niệm, đặc điểm của quyền được xét xử công bằng Quyền được xét xử công bằng được dịch ra từ cụm từ “right to a fair trial”. Nếu dịch sát nghĩa thì “right to a fair trial” là quyền đối với (quyền có một) phiên xử công bằng.
Quyền này đầu tiên được đề cập tại các Điều 10, 11 tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Liên Hợp Quốc, 1948 (UDHR). Tại điều 10 nêu: “Mọi người, với tư cách biǹ h đẳ ng về mo ̣i phương diê ̣n , đều có quyền được một toà án đô ̣c lâ ̣p và vô tư phân xử công bằ ng và công khai để xác đinh ̣ quyề n , nghĩa vụ hoặc bấ t cứ mô ̣t lời buô ̣c tô ̣i nào đố i với ng ười đó”. Điề u 11 nêu: “(1) Mọi người, nế u bi ̣ quy tô ̣i hình sự , đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi một toà án công khai , nơi người đó đã có đươ ̣c tấ t cả những đảm bảo cầ n thiế t để bào chữa cho min ̀ h , chứng minh đươ ̣ c tô ̣i tra ̣ng của người đó dựa trên cơ sở luâ ̣t pháp. (2) Không ai bi ̣ kế t tô ̣i hình sự vì mô ̣t hành vi hay sự tắ c trách không bi ̣coi là mô ̣t tô ̣i hình sự theo quy đinh ̣ của luâ ̣t pháp quố c gia hay quố c tế vào thời điể m đó.
Cũng như không cho phép áp dụng hình thức xử phạt đối với một tội hình sự nặng hơn so với quy định của luật pháp lúc bấy giờ cho mức độ phạm tội cụ thể như vậy ”[17] Sau đó, quyền được xét xử công bằng được đề cập tại các điều 14 công ước về các quyền dân sự - chính trị 1966 (ICCPR) của Liên Hợp Quốc: “(1) Mọi người đều bình đẳng trước các tòa án và cơ quan tài phán. Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một tòa án có thẩm quyền, độc lập không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội người đó trong các vụ án hình sự, hoặc để xác định quyền và nghĩa vụ của người đó trong các vụ kiện dân sự. Báo chí và công chúng có thể không được tham dự một phần hay toàn thể phiên xử, vì lý do đạo đức, trật tự công cộng hoặc an ninh quốc gia trong một xã hội dân chủ, hay để bảo vệ đời sống riêng tư của các đương sự tranh tụng, hay trong 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những trường hợp thật cần thiết, khi toà án quyết định rằng xét xử công khai sẽ làm thiệt hại quyền lợi của công lý. Tuy nhiên mọi phán quyết trong vụ án hình sự hoặc vụ kiện dân sự phải được tuyên đọc công khai, trừ trường hợp để bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên hay quyền lợi của vụ việc liên quan đến những tranh chấp hôn nhân hoặc quyền giám hộ trẻ em; (2) Người bị cáo; buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật; (3) Trong quá trình xét xử về một tội hình sự, mọi người đều có quyền được hưởng một cách đầy đủ và hoàn toàn bảo đảm những bình đẳng tối thiểu như: a) được thông báo không chậm trễ và chi tiết bằng một ngôn ngữ mà người đó hiểu về bản chất và lý do buộc tội mình, b)có đủ thời gian và điều kiện thuận lợi để chuẩn bị bào chữa và liên hệ với người bào chữa do chính mình lựa chọn; c) được xét xử mà không bị trì hoãn một cách vô lý; d) được có mặt khi xét xử và được tự bào chữa hoặc thông qua sự trợ giúp pháp lý theo sự lựa chọn của mình; được thông báo về quyền này nếu chưa có sự trợ giúp pháp lý; và được nhận sự trợ giúp pháp lý theo chỉ định trong trường hợp lợi ích của công lý đòi hỏi và không phải trả tiền cho sự trợ giúp đó nếu không có đủ điều kiện trả; e) được thẩm vấn hoặc yêu cầu thẩm vấn những nhân chứng buộc tội mình, và được mời người làm chứng gỡ tội cho mình tới phiên tòa và thẩm vấn họ tại tòa với những điều kiện tương tự như đối với những người làm chứng buộc tội mình, f) được có phiên dịch miễn phí nếu không hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ sử dụng trong phiên tòa; g) không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội; 4) tố tụng áp dụng đối với người chưa thành niên phải xem xét tới độ tuổi của họ và mục đích thúc đẩy sự phục hồi nhân cách của họ; 5)bất cứ người nào bị kết án là có tội đều có quyền yêu cầu tòa án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo quy định pháp luật; 6) khi một người bị kết án về một tội hình sự bởi một quyết định chung thẩm và sau đó bản án bị hủy bỏ, hoặc người đó được tha trên cơ sở tình tiết mới hoặc phát hiện mới cho thấy rõ ràng có sự xét xử oan, thì người đã phải chịu hình phạt theo bản án trên , theo luật có quyền yêu cầu được bồi thường, trừ trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh rằng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com việc sự thật không được làm sáng tỏ tại thời điểm đó hoàn toàn hoặc một phần là do lỗi của người bị kết án gây ra; 7) không ai bị đưa ra xét xử hoặc bị trừng phạt lần thứ hai về cùng một tội phạm mà người đó đã bị kết án hoặc đã được tuyên trắng án phù hợp với pháp luật và thủ tục tố tụng hình sự của mỗi nước”[18].
Theo định nghĩa của Tìm hiểu về quyền con người – tài liệu hướng dẫn về giáo dục về quyền con người, nhà Xuất bản tư Pháp (dịch ra từ: tài liệu của mạng lưới an ninh con người dựa trên sáng kiến của Bộ Ngoại Giao Áo) thì: Quyền được xét xử công bằng liên quan đến thi hành công lý trong lĩnh vực dân sự và hình sự. Ngay từ đầu cần phải hiểu rằng việc thi hành công lý phù hợp gồm hai khía cạnh: mang tính thể chế (chẳng hạn như sự độc lập và không thiên vị của tòa án) và mang tính thủ tục (chẳng hạn như sự công bằng trong xét xử). Nguyên tắc xét xử công bằng duy trì một loạt các quyền cá nhân đảm bảo cho việc thi hành công lý thích hợp từ lúc nghi ngờ đến khi thi hành công lý. Các quyền tối thiểu của bị cáo: 1.
Tất cả mọi người sẽ được bình đẳng trước tòa án và có quyền được đảm bảo tối thiểu đối với việc xét xử công bằng với sự bình đẳng thực sự; 2. Mọi người đều có quyền tự do tiếp cận các biện pháp xét xử công bằng và hiệu quả; 3. Tòa án có thẩm quyền, độc lập, công bằng và được thiết lập bởi pháp luật; 4. Mọi người có quyền được xét xử công bằng và công khai.
Do đó công chúng rộng rãi có thể chứng kiến việc xét xử; 5. Mọi người bị kết tội phạm tội sẽ có quyền được coi là vô tội cho đến khi chứng minh được sự phạm tội theo luật pháp; 6. Mọi người đều có quyền được xét xử kịp thời; 7. Mọi người đều có quyền được có mặt khi xét xử.
Bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc thông qua trợ giúp pháp lý, anh ta sẽ được thông báo về quyền này , trong bất kỳ trường hợp nào đòi hỏi phải có quyền lợi về công lý thì bị cáo sẽ được trợ giúp pháp lý miễn phí nếu anh ta không đủ khả năng chi trả; 8. Bị cáo có quyền thẩm vấn nhân chứng chống lại anh ta và có quyền tham 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gia và tiến hành thẩm vấn nhân chứng vì quyền lợi của mình. Bị cáo có quyền không bị ép buộc nhận tội; 9. Bị cáo có quyền nhận sự giúp đỡ miễn phí của phiên dịch nếu anh ta không hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ mà tòa án sử dụng; 10.
Theo luật pháp quốc gia hoặc quốc tế sẽ không ai bị buộc phạm tội hình sự do bất kỳ hành vi hay sai sót nào không cấu thành tội hình sự tại thời điểm sự việc xảy ra. Cũng không áp đặt hình phạt nào nặng hơn hình phạt đã áp dụng tại thời điểm tội phạm xảy ra. [11,179-180] Theo khái niệm về quyền được xét xử công bằng trong Quyền con người trong quản lý Tư pháp của tác giả Vũ Ngọc Bình thì: Quyền được xét xử công bằng là quyền cơ bản của người bị buộc tội trong vụ án hình sự và của các bên trong vụ việc phi hình sự trước cơ quan tư pháp (Công an, Viện kiểm sát và Toà án), được pháp luật quốc gia và quốc tế ghi nhận và bảo vệ, bao gồm nhiều quyền cụ thể (như được bảo đảm quyền bào chữa, được xét xử nhanh chóng, công khai bởi Toà án độc lập, không thiên vị.) nhằm bảo đảm cho việc xét xử được công bằng, cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân [5] Theo định nghĩa của Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người của Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội thì: xét xử công bằng thực chất là một tập hợp các bảo đảm tố tụng nhằm đảm bảo quá trình xét xử được công bằng, trong đó bao gồm các khía cạnh như được bình đẳng trước tòa án (equality before a court), được suy đoán vô tội (assumption of innocence); không bị áp dụng hồi tố (prohibition of ex post facto laws); và không bị bỏ tù chỉ vì không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng (prohibition of imprisonment for debt). Trong một số tài liệu, mỗi bảo đảm này được coi như là một quyền con người cụ thể [10, 168].
Như vậy có thể thấy rằng, quyền xét xử công bằng là một quyền căn bản, hòn đá tảng trong hệ thống bảo vệ nhân quyền quốc tế. Quyền này tồn tại trong cả các vụ án hình sự và phi hình sự. Luật quốc tế bảo vệ những người bị bắt giữ vì cho rằng khi bị cáo buộc tội danh hình sự thì bị cáo sẽ phải đối mặt với cả một guồng máy nhà nước, mà ở đó nhân phẩm, thân thể, tính mạng của bị can, bị cáo…có thể 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.