Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHA MẸ SAU LY HÔN 1. KHÁI NIỆM QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHA MẸ SAU LY HÔN 1. Khái niệm quyền của cha mẹ đối với con Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con có thể được tiếp cận dưới góc độ một bộ phận đặc thù quyền con người trong lĩnh vực gia đình và dưới góc độ các quyền và nghĩa vụ dân sự. Thuật ngữ về quyền hay chính xác hơn là "quyền con người" xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử xã hội loài người.
Ngay từ thời cổ đại thì ở một số các quốc gia đã có sự xuất hiện và bàn luận về quyền con người. Mặc dù được xuất hiện sớm nhưng quyền con người chỉ được xem như là một hình thức pháp lý kể từ khi hình thức dân chủ cổ điển ra đời. Tuy nhiên trong thời kỳ đầu của hình thức này, với xã hội chiếm hữu nô lệ và một nhà nước chủ nô chuyên chế, thì giai cấp chủ nô với các thiết chế và quy định chỉ nhằm mục đích duy trì sự thống trị của mình, bảo vệ lợi ích cho chính giai cấp của mình thì nô lệ khi ấy không được coi là con người, mà chỉ là công cụ để tạo ra của cải vật chất cho chủ nô. Như vậy, trong thời kỳ đầu này không thể nói là có tồn tại quyền con người.
Ðến thời kỳ phong kiến, thì nông dân - bộ phận chiếm đa số trong xã hội đã có được một số quyền cơ bản hơn như: quyền được sống mà không phụ thuộc ý chí của người khác, quyền được có tài sản, có gia đình và có một số công cụ lao động… Tuy nhiên trên thực tế thì địa vị của người nông dân vẫn bị giai cấp thống trị chèn ép với nhiều hình thức khác nhau. Thế kỷ XVII là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của các tư tưởng về quyền con người. Lúc này, nhân quyền được phát triển thành các học thuyết và xuất hiện các quan niệm khác nhau về quyền con người. Cũng trong giai đoạn này, một số văn bản ghi nhận quyền con người cũng đã được ra đời ví dụ như: Thỉnh luật về quyền năm 1628, Ðạo dụ năm 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1679 hay như trong Dự luật về các quyền ở Anh năm 1689.
Ðặc biệt, Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn nhân quyền của Pháp năm 1789 là hai văn bản ghi nhận một cách rõ ràng và cụ thể nhất về quyền con người trong thời kỳ này. Trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Thomas Jefferson đã khẳng định: "…mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc" [27]. Trong bản Tuyên ngôn nhân quyền của Pháp cũng khẳng định: ". người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi" [27].
Hai bản Tuyên ngôn này đã đánh thức cả nhân loại về các quyền của con người, của công dân như một giá trị cao quý và thiêng liêng được thừa nhận chung trên toàn thế giới. Ngày 24/10/1945, Liên hợp quốc ra đời và đã thông qua bản Hiến chương Liên hợp quốc, ngay trong khoản 3, Ðiều 1 của Hiến chương đã quy định một trong những mục đích cơ bản nhất của Liên hợp quốc: "…khuyến khích phát triển sự tôn trọng quyền con người và tự do cho tất cả mọi người trong cộng đồng nhân loại, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo…" [7]. Tuy nhiên, việc quy định của Hiến chương chỉ mang tính chất là những nguyên tắc chung, kêu gọi nhân loại bảo vệ quyền con người, chứ không phải là cơ sở pháp lý để đảm bảo cho cuộc đấu tranh đòi quyền con người. Ngày 10/12/1948, Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền đã được Ủy ban quyền con người thông qua.
Ðây có thể coi là văn kiện chính trị pháp lý cơ bản và đầy đủ nhất cho cuộc đấu tranh cho quyền con người. Kể từ đây, nhân quyền được chính thức xem là vấn đề của toàn nhân loại. Các quyền con 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người được quy định trong bản Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền được xem là tiêu chuẩn, làm cơ sở cho các văn bản pháp lý khác về quyền con người được ban hành sau này. Kể từ năm 1948, Liên hợp quốc còn thông qua rất nhiều Công ước, Hiệp ước, và Nghị định thư về nhân quyền.
Tiêu biểu như: Công ước về các quyền dân sự, chính trị và Công ước về các quyền kinh tế, chính trị, văn hóa năm 1966; Công ước quốc tế về loại trừ các hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965; Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989… Trong số các quyền con người mà các văn bản luật quốc tế nêu trên có đề cập đến thì quyền liên quan đến cha, mẹ, con cũng là một nội dung cơ bản và nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia thành viên. Tại khoản 1, Điều 9 công ước quốc tế về quyền trẻ em có quy định: Các quốc gia thành viên phải bảo đảm rằng trẻ em không bị tách khỏi cha, mẹ trái với ý muốn của họ, trừ trường hợp do các cơ quan có thẩm quyền quyết định với sự thẩm định của Tòa án rằng theo pháp luật và các thủ tục áp dụng thì việc tách khỏi cha, mẹ như vậy là cần thiết cho lợi ích tốt nhất của trẻ em. Quyết định này có thể là cần thiết trong những trường hợp đặc biệt như trẻ em bị cha mẹ lạm dụng hay bỏ mặc, hoặc khi cha mẹ sống ly thân và cần có một quyết định về nơi cư trú của trẻ em [11]. Như vậy quyền được sống với cha, mẹ là quyền cơ bản mà bất cứ trẻ em nào khi sinh ra đều có, không phân biệt dân tộc, màu da hay giới tính; trừ trường hợp trẻ em bị tách khỏi cha mẹ trên cơ sở quyết định của cơ quan pháp luật có thẩm quyền và quyết định này cũng phải được cân nhắc là mang lại những lợi ích tốt nhất cho các em.
Ngay cả khi bị tách khỏi cha, mẹ thì "Các quốc gia thành viên phải tôn trọng quyền của đứa trẻ phải sống cách ly khỏi cha, mẹ, hoặc cả cha lẫn mẹ, được duy trì những quan hệ riêng tư và được tiếp xúc trực tiếp với cả cha và mẹ một cách đều đặn, trừ khi việc này trái với lợi ích tốt nhất của đứa trẻ" [11, khoản 3 Điều 9]. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngoài ra, nghĩa vụ của cha mẹ trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con cũng được đề cập đến, theo đó: "…cả cha và mẹ đều có trách nhiệm chung trong việc nuôi dưỡng và sự phát triển của con cái…" [11, khoản 1, Điều 18]. Ở Việt Nam, thuật ngữ quyền con người được nhắc đến đầu tiên từ Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 Người đã nhắc đến quyền con người rồi suy rộng ra là quyền tự quyết của dân tộc làm căn nguyên cho cuộc đấu tranh giành độc lập của nước Việt Nam khỏi ách thống trị của chế độ thực dân và phong kiến. Việt Nam không có một bản tuyên ngôn nhân quyền riêng mà quyền con người được quy định nằm trong một phần của Hiến pháp, mà cụ thể hơn là nằm trong các quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân, Hiến pháp không chỉ đơn thuần là văn bản quy định việc tổ chức nhà nước mà còn là cơ sở đảm bảo cho việc thực hiện nhân quyền, hay nói cách khác là thực hiện quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam.
Ðiều này đã làm cho quyền con người mà biểu hiện là quyền công dân và Hiến pháp ngay từ buổi đầu đã có sự gắn bó chặt chẽ, cùng là cơ sở cho cuộc đấu tranh giành độc lập và giải phóng dân tộc. Bên cạnh việc xây dựng các quy định đảm bảo quyền con người trong nước, chúng ta còn tiến hành thể chế hóa các quy định về quyền con người của pháp luật quốc tế vào pháp luật quốc gia, tạo nên sự thống nhất và tăng cường mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia và pháp luật thế giới trong lĩnh vực nhân quyền. Ðiều này thể hiện qua việc Việt Nam đã tham gia ký kết và là thành viên của rất nhiều điều ước quốc tế về quyền con người. Cho đến nay, Nhà nước ta đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người.
Năm nhóm quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa trong pháp luật Việt Nam về cơ bản đã tương thích với luật quốc tế về quyền con người. Ở Việt Nam, các quyền cơ bản của con người đã và đang được thực hiện trên thực tế và được Hiến pháp, pháp luật và Nhà nước bảo vệ. Ðường 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lối, chính sách nhất quán của Ðảng và Nhà nước Việt Nam trước đây và hiện nay luôn là tôn trọng và bảo đảm quyền con người, lấy con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển. Ðiều 50 Hiến pháp 1992 quy định: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng và thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật" [18].
Như vậy, mặc dù không có quy định riêng hay khái niệm chính xác về quyền hay quyền con người nhưng phạm trù này đã được cụ thể hóa thông qua các quyền công dân. Nó đã và đang được thực thi cụ thể trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được bảo đảm ngày càng đầy đủ hơn cùng với sự phát triển của đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nghĩa vụ theo cách hiểu thông thường là những gì mà một người phải làm hoặc không được làm đối với người khác. Theo cách hiểu này thì nghĩa vụ là mối liên hệ giữa hai hay nhiều người với nhau, trong đó một bên phải thực hiện hành vi nhất định.
Để hiểu một cách đầy đủ về nghĩa vụ, thuật ngữ này cần được xem xét trên các phương diện sau đây: Thuật ngữ nghĩa vụ được dùng trong đời sống hàng ngày là sự xử sự mà một người phải thực hiện vì một hay nhiều người khác, nhưng sự thực hiện đó không đặt dưới sự đảm bảo của nhà nước bằng pháp luật.