Quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trường theo pháp luật việt nam từ thực tiễn tại huyện bảo thắng tỉnh lào cai

Bài viết phân tích quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trường theo pháp luật Việt Nam tại huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Trường đại học

Trường Đại Học Mở Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2020

97
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

1.1. Tổng quan về quyền, nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trường

1.2. Quan niệm về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng

1.3. Quan niệm về bảo vệ môi trường và quyền, nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trường

1.4. Điều chỉnh pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trường

1.5. Các yếu tố chi phối đến điều chỉnh pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trường

1.6. Vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trường

1.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN BẢO THẮNG, TỈNH LÀO CAI

2.1. Thực trạng các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trường

2.2. Cơ chế hình thành đại diện của cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường

2.3. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong tham vấn chủ trương, chính sách, pháp luật bảo vệ môi trường

2.4. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong tham vấn đánh giá môi trường

2.5. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong xây dựng hương ước, quy ước về bảo vệ môi trường

2.6. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong xã hội hóa bảo vệ môi trường và hoạt động tự quản tại địa phương

2.7. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong tiếp cận thông tin môi trường

2.8. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong giám sát, phát hiện và tố cáo hành vi vi phạm pháp luật môi trường

2.9. Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trường tại Huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai

2.10. Khái quát về Huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai và vấn đề bảo vệ môi trường

2.11. Những kết quả đạt được trong thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trường

2.12. Những hạn chế trong thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trường

2.13. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

3.1. Các giải pháp để hoàn thiện pháp luật

3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật

3.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quyền và nghĩa vụ cộng đồng trong bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay, đặc biệt tại huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm mà còn là quyền lợi của mỗi cá nhân trong xã hội. Cộng đồng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, từ việc nâng cao nhận thức đến tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy sự tham gia của cộng đồng vẫn còn hạn chế.

1.1. Khái niệm quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trường

Quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trường được hiểu là những quyền lợi và trách nhiệm mà mỗi cá nhân trong cộng đồng phải thực hiện. Quyền này bao gồm quyền được tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường, trong khi nghĩa vụ bao gồm việc thực hiện các hành động bảo vệ môi trường.

1.2. Tầm quan trọng của quyền và nghĩa vụ cộng đồng

Quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trường có tầm quan trọng lớn trong việc duy trì sự cân bằng sinh thái. Sự tham gia tích cực của cộng đồng giúp nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường và tạo ra một môi trường sống tốt hơn cho thế hệ tương lai.

II. Vấn đề và thách thức trong bảo vệ môi trường tại Bảo Thắng Lào Cai

Huyện Bảo Thắng đang đối mặt với nhiều thách thức trong công tác bảo vệ môi trường. Sự phát triển kinh tế nhanh chóng đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên không bền vững đã gây ra nhiều hệ lụy cho môi trường sống của người dân.

2.1. Tình trạng ô nhiễm môi trường tại Bảo Thắng

Ô nhiễm không khí, nước và đất đang gia tăng tại Bảo Thắng. Các nguồn ô nhiễm chủ yếu đến từ hoạt động sản xuất công nghiệp và sinh hoạt của người dân. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và đời sống của cộng đồng.

2.2. Thiếu nhận thức về bảo vệ môi trường

Mặc dù người dân nhận thức được tầm quan trọng của bảo vệ môi trường, nhưng họ vẫn thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết để tham gia hiệu quả. Điều này dẫn đến việc các hoạt động bảo vệ môi trường chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường tại Bảo Thắng

Để nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường, cần có những phương pháp cụ thể và thiết thực. Việc tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức cho cộng đồng là rất quan trọng. Bên cạnh đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức và cơ quan chức năng.

3.1. Tăng cường giáo dục môi trường cho cộng đồng

Giáo dục môi trường cần được đưa vào chương trình học tại các trường học và tổ chức các buổi tập huấn cho người dân. Điều này giúp nâng cao nhận thức và kỹ năng bảo vệ môi trường cho cộng đồng.

3.2. Tạo cơ chế phối hợp giữa các tổ chức

Cần có cơ chế phối hợp giữa các tổ chức quần chúng và chính quyền địa phương trong việc triển khai các hoạt động bảo vệ môi trường. Sự hợp tác này sẽ giúp tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Bảo Thắng

Nghiên cứu thực tiễn cho thấy rằng việc áp dụng các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trường đã mang lại những kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục.

4.1. Kết quả đạt được trong bảo vệ môi trường

Một số hoạt động bảo vệ môi trường đã được triển khai thành công, như thu gom rác thải và trồng cây xanh. Những hoạt động này đã góp phần cải thiện môi trường sống tại địa phương.

4.2. Những hạn chế trong thực hiện quy định pháp luật

Mặc dù có những kết quả tích cực, nhưng việc thực hiện các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng vẫn còn nhiều hạn chế. Cần có những biện pháp cụ thể để khắc phục tình trạng này.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó cộng đồng đóng vai trò quan trọng. Để nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường tại Bảo Thắng, cần có sự tham gia tích cực của cộng đồng và sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng.

5.1. Tầm quan trọng của sự tham gia cộng đồng

Sự tham gia của cộng đồng không chỉ giúp nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường mà còn tạo ra sự gắn kết trong xã hội. Điều này cần được khuyến khích và phát huy.

5.2. Định hướng phát triển bền vững cho Bảo Thắng

Huyện Bảo Thắng cần xây dựng các chiến lược phát triển bền vững, trong đó bảo vệ môi trường là một trong những ưu tiên hàng đầu. Điều này sẽ đảm bảo sự phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về quyền, nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trường và điều chỉnh pháp luật về quyền, nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trường. Chương 2: Thực trạng pháp luật về quyền, nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trường và thực tiễn thi hành tại Huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trường. 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG VÀ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG 1.

Tổng quan về quyền, nghĩa vụ của cộng đồng trong bảo vệ môi trƣờng 1. Quan niệm về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng * Quan niệm về quyền: Quyền là khái niệm khoa học pháp lí dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế [31]. Các dấu hiệu đặc trưng của quyền gồm: một là có sự ghi nhận về mặt pháp lí và phải được bảo đảm thực hiện bởi các quy định của pháp luật; hai là phải có sự thừa nhận về mặt xã hội, gắn liền với chủ thể cá nhân và được thể hiện trong thực tế đời sống thông qua các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân trong một cộng đồng nhất định. Đối với cộng đồng, các quyền cơ bản phát sinh khi cộng đồng được hình thành và có những quyền cụ thể khác phát sinh và ghi nhận khi cộng đồng tham gia những quan hệ xã hội, những lĩnh vực hoạt động nhất định tức là quyền được phát sinh, tăng hay giảm tùy theo từng thời điểm của quá trình tồn tại và phát triển của xã hội.

Quyền phải gắn với nghĩa vụ và năng lực của cộng đồng và phải chịu tác động trong phạm vi giới hạn của pháp luật hay vùng lãnh thổ nhất định. Quyền của cộng đồng chỉ bị tước bỏ bởi pháp luật, chấm dứt khi cộng đồng tan rã hay không còn tồn tại. Với tư cách là một chủ thể trong xã hội, cộng đồng được hưởng đầy đủ các quyền mà hiến pháp, pháp luật của nhà nước quy định. Đồng thời, nhà nước có trách nhiệm bảo vệ các quyền đó.

Ở nước ta, quyền của cộng đồng được thể chế hóa tại Hiến pháp và các đạo luật. Theo đó, cộng đồng có các loại quyền đương nhiên; các quyển về chính trị; các quyền về kinh tế văn hóa, xã hội… 9 Quyền là một phạm trù trung tâm, quan trọng trong thực tiễn xây dựng, áp dụng pháp luật và cả trong đời sống xã hội. Theo sự phát triển của xã hội, phạm vi các quyền của cộng đồng ngày càng phát triển theo hướng đa dạng hóa. Tôn trọng các quyền của cộng đồng và đảm bảo quyền của cộng đồng là nguyên tắc quan trọng của hoạt động tư pháp và là nội dung quan trọng của quản lí nhà nước, quản lí xã hội nói chung và bảo vệ môi trường nói riêng.

* Quan niệm về nghĩa vụ: Nghĩa vụ là việc, những việc phải làm theo đúng bổn phận của mình. Mối quan hệ phát sinh giữa một hay nhiều chủ thể (gọi là người có nghĩa vụ) phải làm một công việc, thực hiện một hành vi hoặc không được làm một công việc, một hành vi, vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (gọi là người có quyền) [31]. Khái niệm này thể hiện sự ràng buộc giữa các bên có liên quan trong những mối quan hệ cụ thể, trước hết là một phạm trù đạo đức học phản ánh trách nhiệm của chủ thể - một cá nhân, một tập thể, một giai cấp, một dân tộc, đối với những việc phải làm trong những điều kiện xã hội cụ thể, trước một tình hình xã hội nhất định tại một thời điểm nhất định. Trong đời sống nhà nước - pháp luật, nghĩa vụ là khái niệm được sử dụng rất phổ biến nhất là trong lĩnh vực giao lưu dân sự, trong đó chủ yếu là hợp đồng dân sự (như hợp đồng mua, bán, vay mượn.), hành vi dân sự đơn phương (như lập di chúc, hứa thưởng và thi có giải.), chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật, thực hiện công việc không có uỷ quyền.

Về đối tượng của nghĩa vụ, đó có thể là tài sản, công việc phải làm hoặc không được làm như trong lĩnh vực nghĩa vụ dân sự, các đối tượng này phải được chỉ định đích xác để thuận lợi trong việc thực hiện và tránh xảy ra tranh chấp (ví dụ: hợp đồng mua bán tài sản, mua bán là vật đặc định. Ngoài ra, đối tượng của nghĩa vụ còn là những giá trị không phải là tài sản như nghĩa vụ công dân (nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tôn trọng, chấp hành pháp luật). 10 Thông thường, nghĩa vụ luôn đi đôi với quyền như quyền công dân đi liền với nghĩa vụ công dân: làm nghĩa vụ thì phải được hưởng quyền. Một chủ thể làm nghĩa vụ là để thoả mãn nhu cầu, đòi hỏi, lợi ích của một chủ thể khác có quyền.

Tương tự như thế, trong bảo vệ môi trường, quyền của cộng đồng cũng luôn đi liền với nghĩa vụ của chủ thể này. * Quan niệm về cộng đồng Theo bách khoa toàn thư Wikipedia thì“ Cộng đồng” được hiểu là một nhóm xã hội của các cơ thể sống chung trong cùng một môi trường thường là có cùng các mối quan tâm chung. Cộng đồng được hình thành trên cơ sở các mối liên hệ giữa cá nhân và tập thể, có ý thức đoàn kết của tập thể, chủ yếu là dựa trên cơ sở tình cảm ngoài ra còn dựa trên các mối liên hệ khác. Do vậy, có thể hiểu cộng đồng bao gồm một loạt yếu tố xã hội chung mang tính phổ quát.

Đó là những mặt cộng đồng về kinh tế, về địa lý, về ngôn ngữ, về văn hóa, về tín ngưỡng, về tâm lý, về lối sống…Ngoài ra, theo từ điển Oxford Leaner’s Distionary, thì cộng đồng “community” được hiểu là tất cả những người sống trong cùng một khu vực địa lý nhất định, một tập hợp từ tất cả các thành phần trong cộng đồng; hoặc được hiểu là một nhóm người có chung những đặc điểm sắc tộc, tôn giáo, nghề nghiệp hay có thể hiểu cộng đồng là một tập thể cùng chia sẻ, hoặc có tài nguyên chung hoặc có tình trạng tương tự nhau về một số khía cạnh nào đó [21,23,24]. Xét dưới góc độ xã hội học, cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân sống chung ở một địa bàn cụ thể nhất định, hoặc là có chung một đặc tính xã hội hay sinh học nào đó và cùng chia sẻ với nhau một lợi ích vật chất, tinh thần nào đấy. Cộng đồng có thể phân ra nhiều loại như: + Cộng đồng địa lý bao gồm những người dân cư trú cùng một địa phương, một khu vực, thường có những đặc điểm chung về văn hoá, xã hội và có thể có các mối quan hệ ràng buộc với nhau. 11 + Cộng đồng chức năng gồm những người có thể cư trú gần nhau hoặc không gần nhau nhưng có lợi ích chung.

Họ gắn kết với nhau trên cơ sở nghề nghiệp, sở thích, hợp tác … + Cộng đồng được hiểu là cộng đồng người sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư. Dưới góc độ pháp lý, thuật ngữ cộng đồng được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau. Luật bảo vệ môi trường 1993, 2005 và 2014 đều sử dụng khái niệm cộng đồng nhưng không giải thích, định nghĩa thuật ngữ này. Tuy nhiên, tại Nghị định 19/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật bảo vệ môi trường 2014 lại có đưa ra khái niệm cộng đồng.

Theo đó, cộng đồng là cộng đồng người sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư. Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2020 vừa được thông qua cũng thống nhất khái niệm này theo cách tiếp cận trên của Nghị định 19/2015/NĐ-CP. Bộ luật dân sự 2015 ( có hiệu lực từ 01/01/2017) cũng có sử dụng thuật ngữ liên quan đến cộng đồng. Khoản 1 Điều 211 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Sở hữu chung của cộng đồng là sở hữu của dòng họ, thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc, cộng đồng tôn giáo và cộng đồng khác đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên của cộng đồng cùng nhau đóng góp, quyên góp, được tặng cho chung hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm mục đích thỏa mãn lợi ích chung hợp pháp của cộng đồng.

Có thể thấy theo quy định của Bộ luật dân sự 2015, thuật ngữ cộng đồng được sử dụng đồng nhất với khái niệm cộng đồng, cơ sở, khu dân cư. Theo các chuyên gia môi trường, cộng đồng là “một nhóm công dân chung sống tại một khu vực địa lý, cùng chia sẻ một hệ thống giá trị, các nhu cầu và lợi ích chung”. Xét trên phương diện quản lý về môi trường, đây là nhóm công dân trong xã hội không phải những người gây ô nhiễm cũng không phải nhà quản lý. Nhóm công dân ấy chịu sự ô nhiễm và suy thoái môi trường do 12 doanh nghiệp gây ra và chịu sự quản lý nhà nước của các cấp chính quyền.

Họ có quyền lợi chung về môi trường, có trách nhiệm và sáng kiến trong bảo vệ môi trường. Từ những phân tích trên, có thể hiểu khái niệm cộng đồng như sau: Cộng đồng là một nhóm công dân sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ, có các nhu cầu và lợi ích chung. Tiếp cận dưới góc độ pháp lý, gắn với các quy định của pháp luật môi trường hiện hành, trong phạm vi đề tài này, khái niệm cộng đồng được hiểu đồng nhất với khái niệm cộng đồng dân cư. Cộng đồng có những đặc điểm sau: Thứ nhất, cộng đồng là cộng động người cùng cư ngụ trên một phạm vi địa lý nhỏ hẹp như thôn, làng, ấp, bản buôn, phum….

Thứ hai, cộng đồng mang tính chất gắn kết cao, và mang tính chất xã hội Thứ ba, các thành viên của cộng đồng thường có cùng ngôn ngữ, địa điểm sinh sống, văn hóa, … Thứ tư, cộng đồng mang tính chất đặc trưng cho một cộng đồng người, qua đó thực hiện nghĩa vụ cũng như hưởng quyền lợi của công dân, dân tộc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ