phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 2 Chương được bố cục như sau: Chƣơng 1. Căn cứ phát sinh quyền ưu tiên thanh toán của người giải chấp. Thứ tự và phạm vi ưu tiên thanh toán của người giải chấp. Kết cấu này được xây dựng xuất phát từ những bất cập cơ bản và chính yếu khi nghiên cứu về quyền ưu tiên thanh toán của người giải chấp theo pháp luật dân sự Việt Nam.
Thứ nhất, để xác định quyền ưu tiên thanh toán của người giải chấp, cần làm rõ các căn cứ pháp lý được quy định trong BLDS và LTHADS. Theo quy định tại các điều 297, 308 BLDS năm 2015, căn cứ phát sinh quyền ưu tiên thanh toán khi có tranh chấp giữa các bên cùng nhận tài sản bảo đảm; giữa bên nhận bảo đảm với người thứ ba; và Điều 47 LTHADS quy định căn cứ phát sinh quyền ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp. Như vậy, đối chiếu với các quy định nêu trên thì pháp luật dân sự Việt Nam không nói rõ người giải chấp được quyền ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản thế chấp; và, đương nhiên cũng không có quy định đề cập đến thứ tự và phạm vi ưu tiên thanh toán của người giải chấp. Do đó, Luận văn sẽ chia thành hai chương tương ứng để triển khai đề tài nghiên cứu.
13 CHƢƠNG 1 CĂN CỨ PHÁT SINH QUYỀN ƢU TIÊN THANH TOÁN CỦA NGƢỜI GIẢI CHẤP Ưu tiên thanh toán là một quyền quan trọng trong pháp luật dân sự, nó có tác dụng cân bằng lợi ích kinh tế giữa các chủ thể có quyền ưu tiên với nhau trong mối quan hệ đối kháng về lợi ích trên nguyên tắc đảm bảo lẽ công bằng cho các bên tham gia giao dịch dân sự; đồng thời thể hiện đặc quyền của chủ thể có quyền ưu tiên trước các chủ thể không có quyền ưu tiên. Trong pháp luật dân sự Việt Nam, quyền ưu tiên thể hiện qua quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán. Trên thế giới, một số nước đã quy định quyền ưu tiên thành chế định riêng, như trong BLDS Pháp, Thiên XVIII quy định về “Quyền ưu tiên và quyền thế chấp”. Điều 2095 BLDS Pháp định nghĩa “Quyền ưu tiên là quyền của người có quyền được ưu tiên thanh toán nghĩa vụ trước những người có quyền khác, kể cả người có quyền đã nhận thế chấp.
Tương tự, Bộ luật dân sự Nhật Bản cũng quy định quyền ưu tiên thanh toán, trong tác phẩm Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Nhật Bản, các tác giả Xaca Vacaxum và Tori Aritdumi đã viết “Quyền ưu tiên cũng là một quyền bảo đảm tài sản và thể hiện bằng việc người có thẩm quyền, trong một số nghĩa vụ do luật định, được ưu tiên đáp ứng quyền của mình từ tài 6 sản nhất định của người mắc nợ (Điều 303 Bộ luật dân sự). Pháp luật dân sự Việt Nam hiện nay chưa định nghĩa quyền ưu tiên hay quyền ưu tiên thanh toán. Tuy nhiên, khi nghiên cứu các căn cứ phát sinh thứ tự ưu tiên thanh toán, ta có thể hiểu: Quyền ưu tiên thanh toán là quyền tài sản cho phép chủ thể có quyền được yêu cầu chủ thể có nghĩa vụ phải thanh toán cho mình trước các chủ thể có quyền khác từ tài sản của người có nghĩa vụ theo mức độ ưu tiên thanh toán. Dựa vào căn cứ phát sinh, quyền ưu tiên thanh toán có thể được chia làm 2 nhóm: + Thứ nhất, nhóm quyền ưu tiên thanh toán phát sinh từ biện pháp bảo đảm.
Đây là nhóm quyền ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm với 6 Bộ Tư pháp, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý (1995), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Nhật Bản, tác giả Xaca Vacaxum và Tori Aritdumi, Nxb. Chính trị quốc gia, tr 277. Trong nhóm này, thứ tự ưu tiên thanh toán có thể thay đổi, nếu các bên cùng nhận bảo đảm có thỏa thuận thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhau. + Thứ hai, nhóm quyền ưu tiên thanh toán không phát sinh từ biện pháp bảo đảm.
Đây là nhóm quyền ưu tiên thanh toán các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế (Điều 658 BLDS năm 2015) và thứ tự thanh toán khi thi hành án dân sự (Điều 47 Luật Thi hành án dân sự). Cả hai nhóm quyền này đều được quy định trong luật. Tuy nhiên, các căn cứ pháp lý nêu trên chưa điều chỉnh bao quát hết toàn bộ quan hệ dân sự, còn nhiều trường hợp nhà làm luật chưa dự liệu được, không có quy phạm pháp luật điều chỉnh kịp thời, còn bỏ ngõ gây khó khăn trong hoạt động thực tiễn giải quyết xét xử tại Tòa án. Điển hình là các tranh chấp liên quan đến việc mua tài 7 sản đang thế chấp ngân hàng là bất động sản.
Do tài sản mua bán (chuyển nhượng) đang thế chấp đảm bảo nghĩa vụ trả nợ khoản vay tín dụng cho ngân hàng nên người mua (nhận chuyển nhượng) tài sản đã trực tiếp hoặc gián tiếp thanh toán tiền cho ngân hàng để chấm dứt nghĩa vụ tài sản của bên bán (chuyển nhượng) nhằm giải chấp tài sản; sau khi tài sản được giải chấp, hai bên tiến hành thủ tục mua bán (chuyển nhượng) thì bị ngăn chặn, hợp đồng giao kết bị vô hiệu. Trong trường hợp này, khi giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu thì số tiền bỏ ra trả nợ cho ngân hàng để giải chấp tài sản có được ưu tiên thanh toán cho người giải chấp (bên mua, nhận chuyển nhượng tài sản) hay không thì pháp luật chưa quy định rõ và còn bất cập. Thông qua việc đánh giá thực tiễn xét xử của Tòa án khi giải quyết các tranh chấp nêu trên sẽ chỉ ra sự bất cập, đặc biệt là tính không thống nhất khi áp dụng pháp luật. Để làm rõ người giải chấp có quyền ưu tiên thanh toán hay không trong các tình huống pháp lý nêu trên, tác giả sẽ khảo sát và phân tích các căn cứ pháp lý cũng như cơ sở lý luận phát sinh quyền ưu tiên thanh toán của người giải chấp.
7 Khoản 1 Điều 107 BLDS năm 2015 quy định “1. Bất động sản bao gồm: a) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật. Ngƣời giải chấp trực tiếp trả tiền cho ngân hàng để giải chấp tài sản 1. Bất cập về căn cứ pháp lý Thế chấp là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, theo đó, bên thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên nhận thế chấp (các điều 292, 317 BLDS năm 2015).
Mục đích thế chấp là dùng tài sản của bên có nghĩa vụ (hoặc bên thứ ba) bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho bên có quyền tài sản, tài sản bảo đảm sẽ bị xử lý khi: (i) Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; (ii) Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật; (iii) Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định (Điều 299). Số tiền có được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản được thanh toán theo thứ tự ưu tiên quy định tại Điều 308 BLDS năm 2015, cụ thể: “1. Khi một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm được xác định như sau: a) Trường hợp các biện pháp bảo đảm đều phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng; b) Trường hợp có biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba và có biện pháp bảo đảm không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm có hiệu lực đối kháng với người thứ ba được thanh toán trước; c) Trường hợp các biện pháp bảo đảm đều không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập biện pháp bảo đảm. Thứ tự ưu tiên thanh toán quy định tại khoản 1 Điều này có thể thay đổi, nếu các bên cùng nhận bảo đảm có thỏa thuận thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán 16 cho nhau.
Bên thế quyền ưu tiên thanh toán chỉ được ưu tiên thanh toán trong phạm vi bảo đảm của bên mà mình thế quyền”. Như vậy, quyền ưu tiên thanh toán của người nhận thế chấp được phát sinh từ quan hệ hợp đồng, và quan hệ hợp đồng này phải phù hợp với quy định của pháp luật dân sự. Để phát sinh quyền ưu tiên thanh toán, hợp đồng thế chấp phải tuân thủ về điều có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định tại Điều 117 của BLDS năm 2015, bao gồm các điều kiện: i) Các bên tham gia hợp đồng thế chấp phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi; ii) Các bên phải hoàn toàn tự nguyện; iii) mục đích và nội dung của hợp đồng thế chấp không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; iv) hình thức của hợp đồng thế chấp phải bằng văn bản, có công chứng hoặc chứng thực hợp pháp và phải được đăng ký biện pháp bảo đảm. Trong thực tiễn xét xử, có nhiều bản án áp dụng các quy định xử lý tài sản thế chấp để dành quyền ưu tiên thanh toán cho bên giải chấp tài sản sau khi quan hệ thế chấp đã chấm dứt, hợp đồng thế chấp đã được xóa đăng ký giao dịch bảo đảm.
Điển hình như các vụ án sau đây: [1] Vụ án thứ nhất: Quyết định giám đốc thẩm số 24/2019/DS-GĐT ngày 28/5/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao Đà Nẵng (viết tắt là quyết định 24 cấp cao Đà Nẵng). Nội dung vụ án như sau: Vợ chồng Dũng, Trang có nhà hàng Kim Gia Trang đang thế chấp Ngân hàng để đảm bảo cho nghĩa vụ vay 8. Ngày 17/8/2018, vợ chồng ông Hưng, Quyên trả 8.000đ cho Ngân hàng thay vợ chồng Dũng, Trang để giải chấp và hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà hàng Kim Gia Trang. Khi tiến hành đăng ký sang tên thì bị ngăn chặn.