phần mở đầu, đã tuyên bố: “Khẳng định một lần nữa sự tin tưởng vào những quyền cơ bản, nhân phẩm và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng giữa nam và nữ,. Khoản 3, Điều 1 (Chƣơng I) đã đề cập đến nội dung quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo theo hƣớng “khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền của con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo” [26, tr. Điều 55, Mục c (Chƣơng IX, Hợp tác quốc tế về kinh tế và xã hội) ghi nhận Liên hợp quốc khuyến khích: “Sự tôn trọng và tuân thủ triệt để các quyền và tự do cơ bản của tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo” [26, tr. - Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, 1948 (The Universal Declaration of Human Rights - UDHR) đƣợc Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10/12/1948, gồm Lời nói đầu và 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Lần đầu tiên, Đại Hội đồng Liên hợp quốc có một văn bản tuyên ngôn chính thức về nhân quyền, tạo cơ sở để Liên hợp quốc cụ thể hoá thành các công ƣớc mang tính chất pháp lý bắt buộc đối với các quốc gia thành viên trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền con ngƣời nói chung, các quyền về dân sự, chính trị nói riêng trong đó có quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo. Trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, quyền tự do tƣ tƣởng, lƣơng tâm và tôn giáo (freedom of thought, conscience and religion) đƣợc ghi nhận trong Điều 18 nhƣ sau: Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo, kể cả tự do thay đổi tín ngưỡng hoặc tôn giáo của mình, và tự do bày tỏ tín ngưỡng hay tôn giáo của mình bằng các hình thức như truyền giảng, thực hành, thờ cúng và tuân thủ các nghi lễ, dưới hình thức cá nhân hay tập thể, tại nơi công cộng hoặc nơi riêng tư [28, tr. UDHR đã kế thừa và phát triển tƣ tƣởng về quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789. Điểm phát triển ở đây là UDHR quy định về quyền này cụ thể và chặt chẽ hơn.
Để thực hiện đƣợc các quyền con ngƣời trong lĩnh vực dân sự, chính trị, xã hội, trong đó có quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo, UDHR đã xác định các bảo đảm nhƣ tôn trọng và thực thi các nguyên tắc quan trọng nhất trong việc bảo vệ quyền con ngƣời: Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và các quyền” (Điều 1); “Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền và tự do nêu trong bản Tuyên ngôn này mà không có bất kỳ sự phân biệt, đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo,…” (Điều 2) [28, tr.236, 237]; “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mà không có bất kỳ sự phân biệt nào. Mọi người đều có quyền được bảo vệ một cách bình đẳng chống lại bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vi phạm bản Tuyên ngôn này, và chống lại bất kỳ sự kích động phân biệt đối xử nào như vậy (Điều 7) [28, tr. Tuy nhiên, UDHR cũng đề cập đến những giới hạn trong việc thực hiện quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo tại Điều 29. Theo đó, có thể hiểu rằng quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo không phải là quyền tuyệt đối, mà là quyền có thể bị giới hạn.
Mọi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng, là nơi duy nhất mà ở đó nhân cách của bản thân họ có thể phát triển tự do và đầy đủ. Khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm mục đích bảo đảm sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác, cũng như nhằm đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ. Trong mọi trường hợp, việc thực hiện các quyền tự do này cũng không được trái với các mục tiêu và nguyên tắc của Liên hợp quốc. - Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, 1966 (The International Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR) đƣợc thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc số 2200 (XXI), ngày 16-12-1966, có hiệu lực từ ngày 23-3-1976.
Quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo đƣợc quy định với bốn nội dung cụ thể, trong đó nội dung thứ nhất quy định gần giống với Điều 18 của bản UDHR. Khái niệm quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo trong ICCPR đƣợc ghi nhận cụ thể hơn tại Khoản 1, Điều 18: 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn và tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, một cách công khai hoặc kín đáo dưới các hình thức như thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền giảng. Ngoài ra, trong ICCPR, khái niệm về quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo còn đƣợc bổ sung thêm ba nội dung, làm cho quan niệm về quyền này rõ ràng và đầy đủ hơn, đó là: không ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn hoặc tin theo tôn giáo hoặc tín ngƣỡng của họ (Khoản 2, Điều 18); Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngƣỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của ngƣời khác (Khoản 3, Điều 18); Các quốc gia thành viên Công ƣớc cam kết tôn trọng quyền tự do của các bậc cha mẹ và của những ngƣời giám hộ hợp pháp nếu có trong việc giáo dục về tôn giáo và đạo đức cho con cái họ theo ý nguyện của riêng họ (Khoản 4, Điều 18) [28, tr.
Bốn nội dung của quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo thể hiện tại Điều 18 của ICCPR gắn kết với nhau trong mối tƣơng quan mật thiết, vừa nói lên đƣợc tính phổ quát của quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo, vừa “để ngỏ” cho những quốc gia với những đặc thù riêng có thể thực hiện đƣợc. Vì vậy, tính khả thi trong hiện thực của nó rất cao. Một số khía cạnh liên quan đến nội dung Điều 18 ICCPR sau đó đƣợc HRC làm rõ thêm trong Bình luận chung số 22 thông qua tại phiên họp lần thứ 48 năm 1993 của Ủy ban, có thể tóm tắt những điểm quan trọng nhƣ sau: Thứ nhất, quyền tự do tƣ tƣởng, lƣơng tâm và tôn giáo có tính bao quát và sâu sắc. Nó bao gồm quyền tự do suy nghĩ về tất cả các vấn đề, tự do tin 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tƣởng và giữ niềm tin vào các tôn giáo hay tín ngƣỡng, cả trên phƣơng diện cá nhân hay tập thể.
Các quyền tự do này phải đƣợc tôn trọng và không thể bị hạn chế hay tƣớc bỏ trong mọi hoàn cảnh, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia nhƣ quy định ở Điều 4 của ICCPR (đoạn 1). Thứ hai, các khái niệm “tín ngƣỡng” (belief) và “tôn giáo” (religion) trong Điều 18 ICCPR cần đƣợc hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả những lòng tin hữu thần và vô thần. Điều này không chỉ đƣợc áp dụng với các tôn giáo, tín ngƣỡng có tính thể chế mà còn với những tập tục truyền thống mang tính tôn giáo (đoạn 2). Thứ ba, Điều 18 phân biệt giữa quyền tự do tƣ tƣởng, lƣơng tâm, tôn giáo hoặc tín ngƣỡng với tự do thực hành tôn giáo hay tín ngƣỡng.
Điều này không cho phép có bất kỳ sự giới hạn nào với quyền tự do tƣ tƣởng, lƣơng tâm, và quyền tự do tin hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngƣỡng. Những tự do này phải đƣợc bảo vệ không điều kiện, tƣơng tự quyền tự do đƣợc giữ ý kiến nêu trong Khoản 1 Điều 19 (đoạn 3). Quyền tự do thực hành tôn giáo hay tín ngƣỡng có thể đƣợc thực thi với tƣ cách cá nhân hay cùng với cộng đồng, ở nơi công cộng hay chỗ riêng tƣ; thể hiện ở các hành động nhƣ thờ cúng, tham gia những lễ hội tôn giáo, quan sát, thực hành và giảng dạy về tôn giáo. Khái niệm thờ cúng bao gồm những hoạt động lễ nghi, kỷ niệm, xây dựng những nơi thờ tự, sử dụng hay trƣng bày các vật dụng và biểu tƣợng nghi lễ, tham gia các lễ hội và các ngày nghỉ lễ tôn giáo.
Việc quan sát và thực hành tôn giáo không chỉ bao gồm các hoạt động nghi lễ, mà còn bao gồm việc tuân thủ các nguyên tắc về ăn kiêng, trang phục, sử dụng ngôn ngữ đặc biệt, lựa chọn lãnh đạo tôn giáo, tăng lữ, ngƣời thầy tâm linh, thành lập các trƣờng tôn giáo, biên soạn và phân phát các tài liệu tôn giáo (đoạn 4). Thứ tư, quyền tin hoặc theo một tôn giáo hay tín ngƣỡng bao gồm quyền tự do lựa chọn một tôn giáo hay tín ngƣỡng để tin hoặc theo, kể cả việc thay 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đổi niềm tin từ tôn giáo, tín ngƣỡng này sang tôn giáo, tín ngƣỡng khác, hay thay đổi niềm tin từ vô thần sang hữu thần và từ hữu thần sang vô thần. Khoản 2 Điều 18 cấm cƣỡng ép tin, theo, bỏ hay thay đổi tôn giáo, tín ngƣỡng, kể cả bằng những chính sách hay tập quán nhằm gây sức ép để đạt mục đích đó nhƣ hạn chế sự tiếp cận với các dịch vụ giáo dục, y tế, việc làm hoặc hạn chế các quyền quy định trong Điều 25 và các Điều khác của ICCPR (đoạn 5). Thứ năm, các trƣờng công lập có thể giảng dạy những môn học nhƣ lịch sử đại cƣơng của các tôn giáo và tín ngƣỡng, miễn là nội dung cần trung lập và khách quan.
Việc các trƣờng công lập giảng dạy giáo lý một tôn giáo hay nội dung một tín ngƣỡng cụ thể nào đó là trái với quy định trong Khoản 4 Điều 18, trừ phi việc giảng dạy nhƣ vậy là do ý nguyện và thuộc vào quyền quyết định của các bậc cha mẹ (đoạn 6).