Chương 1. Cơ sở lý luận về quyền trợ giúp pháp lý của ngƣời chƣa thành niên vi phạm pháp luật. Những điểm tƣơng đồng và khác biệt về quyền trợ giúp pháp lý trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền trợ giúp pháp lý của ngƣời chƣa thành niên vi phạm pháp luật ở Việt Nam phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế và thực tiễn Việt Nam.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN VI PHẠM PHÁP LUẬT 1. Khái niệm, đặc điểm quyền trợ giúp pháp lý của ngƣời chƣa thành niên vi phạm pháp luật 1. Khái niệm người chưa thành niên, người chưa thành niên vi phạm pháp luật 1. Khái niệm người chưa thành niên Thuật ngữ NCTN thƣờng đƣợc dùng phổ biến ở tất cả các nƣớc trên thế giới cũng nhƣ ở các ngành khoa học khác nhau, nhƣng khi nói đến khái niệm về NCTN thì đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.
Ngay cả trong văn bản pháp luật thực định cũng có những tên gọi khác nhau nhƣ: “Ngƣời chƣa thành niên, trẻ vị thành niên hoặc trẻ em”. Trên phƣơng diện luật pháp quốc tế khái niệm NCTN đƣợc đề cập tại các văn kiện pháp lý quan trọng và nó trở thành giá trị chuẩn mực chung cho tất cả các dân tộc, các quốc gia muốn hƣớng tới nhằm thúc đẩy sự tôn trọng để bảo vệ quyền con ngƣời của NCTN. Cụ thể các văn kiện quốc tế nhƣ: Công ƣớc của LHQ về quyền trẻ em tại Điều 1 quy định “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [33, tr. Nhƣ vậy, theo Công ƣớc về quyền trẻ em thì trẻ em đƣợc xác định là ngƣời dƣới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quốc gia công nhận tuổi thành niên sớm hơn.
Còn theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lứa tuổi 10 - 19 tuổi là độ tuổi vị thành niên; thanh niên trẻ là lứa tuổi 19-24 tuổi. Chƣơng trình Sức khỏe sinh sản/Sức khỏe tình dục vị thành niên - thanh niên của khối Liên minh Châu Âu (EU) và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) lấy độ tuổi 15 - 24 tuổi. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bên cạnh đó Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về việc áp dụng pháp luật đối với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh) cũng nêu rõ “Người chưa thành niên là trẻ em hay người ít tuổi tùy theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xét xử vi phạm pháp theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn” [29, số 2. Văn kiện Những quy tắc của LHQ về bảo vệ NCTN bị tƣớc quyền tự do ghi: “Những người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”.
Tuy nhiên, trên thực tế các văn kiện pháp lý quốc tế đều có sự đồng nhất giữa khái niệm NCTN và trẻ em, đồng thời độ tuổi đƣợc xác định chung là dƣới 18 tuổi. Bởi lẽ đây là giai đoạn trẻ em phát triển lên ngƣời lớn, và đặc điểm chính của NCTN trong giai đoạn này là chƣa phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần, tâm sinh lý và nhân cách; chƣa đủ khả năng để sử dụng quyền và gánh vác nghĩa vụ pháp lý nhƣ ngƣời đã thành niên. Do vậy, pháp luật ở mỗi quốc gia quy định riêng độ tuổi cụ thể của NCTN phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội để có hệ thống pháp luật phù hợp. Ở Việt Nam, định nghĩa, khái niệm NCTN theo Từ điển Tiếng Việt - Viện ngôn ngữ học viết “Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân” [22, tr.
Khái niệm đã chỉ rõ, NCTN là ngƣời chƣa hoàn thiện cả về thể lực, trí lực lẫn tinh thần. Do sự phát triển chƣa hoàn thiện mà NCTN chƣa tự mình thực hiện quyền cũng nhƣ chƣa thể tham gia một cách đầy đủ, chủ động vào các quan hệ pháp luật làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ cụ thể từ các quan hệ pháp luật đó. Tuy nhiên, nếu chỉ xem xét quan niệm NCTN theo Từ điển Tiếng việt thì rất khó xác định phạm vi đối tƣợng cụ thể trong cơ cấu dân số là NCTN. Theo quan niệm này, yếu tố để xác định đối tƣợng là NCTN hoàn toàn phụ thuộc vào dấu hiệu sự phát triển về tâm sinh lý, nhận thức.
Dấu hiệu này đƣợc xác định bởi yếu tố định tính, còn yếu tố định lƣợng (có thể coi độ tuổi là yếu 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tố định lƣợng) chƣa đƣợc xác định. Pháp luật Việt Nam hiện hành, độ tuổi của NCTN đã đƣợc thống nhất trong BLHS, BLTTHS, Bộ luật Dân sự, Bộ luật lao động, Luật xử lý vi phạm hành chính và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Các văn bản này đều quy định tuổi của NCTN là dƣới 18 tuổi. + Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi” [24]; + Điều 161 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” [23]; + BLHS năm 2015 có những quy định về các nguyên tắc xử lý khác nhau đối với các độ tuổi khác nhau của ngƣời dƣới 18 tuổi phạm tội (Chƣơng XII), theo đó: Việc xử lý ngƣời dƣới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của ngƣời dƣới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Việc xử lý ngƣời dƣới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm [24]. + BLTTHS năm 2015 cũng có quy định liên quan đến việc tham gia tố tụng hình sự của ngƣời dƣới 18 tuổi và dành hẳn một chƣơng quy định về thủ tục tố tụng đặc biệt đối với ngƣời dƣới 18 tuổi (Chƣơng XXVIII) [25]. Nhƣ vậy về độ tuổi, NCTN là ngƣời chƣa đủ 18 tuổi. Đây có thể coi là giới hạn trên (tối đa) của tuổi chƣa thành niên, còn giới hạn dƣới (tối thiểu) thông thƣờng là 0 [28].
Ở độ tuổi này, những đặc điểm về tâm sinh lý của NCTN có những biểu hiện khá phức tạp và mang những đặc trƣng về tâm, sinh lý, xã hội của NCTN, có thể nhận thấy một số điểm khác biệt của NCTN so với ngƣời thành niên: 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - NCTN là ngƣời chƣa phát triển đầy đủ về thể chất. Sự phát triển biểu hiện ở sự tăng trƣởng về chiều cao, trọng lƣợng cơ bắp, sự hoàn thiện các giác quan… Điểm khác biệt này là do nhân tố sinh học. - NCTN là ngƣời chƣa phát triển đầy đủ về trí tuệ và tâm sinh lý. Cũng là quá trình sinh học, bộ não của nhóm đối tƣợng này phát triển cùng với sự phát triển thể chất.
- NCTN chƣa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân. Độ tuổi của NCTN là ranh giới để phân biệt họ với ngƣời thành niên. Theo đó, ngƣời chƣa đủ 18 tuổi là NCTN, chƣa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân. Còn ngƣời từ đủ 18 tuổi trở lên, về nguyên tắc có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân.
Từ những phân tích trên có thể đƣa ra định nghĩa, khái niệm “NCTN là người dưới 18 tuổi, chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên”. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì khái niệm "NCTN" và khái niệm "trẻ em" không đồng nhất với nhau nhƣ theo pháp luật quốc tế. Về khái niệm “trẻ em”, Công ƣớc về quyền trẻ em quy định: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Pháp luật Việt Nam quy định độ tuổi trẻ em thấp hơn quy định chung của Công ƣớc về quyền trẻ em.
Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em là ngƣời dƣới 16 tuổi. Nhƣ vậy, tƣơng tự nhƣ một số nƣớc, quy định về độ tuổi trẻ em dƣới 16 tuổi của Luật Trẻ em Việt Nam không trái với quy định của Công ƣớc về quyền trẻ em vì thuộc phần “ngoại lệ” Điều 1 Công ƣớc này. Theo pháp luật Việt Nam, khái niệm “NCTN” có nội hàm rộng hơn so với khái niệm “trẻ em”; NCTN bao gồm cả trẻ em và những ngƣời từ đủ 16 tuổi đến dƣới 18 tuổi. Quyền và nghĩa vụ của NCTN tùy thuộc vào quan hệ pháp luật mà ngƣời đó tham gia.
Do đó, việc nắm vững các khái niệm và đặc 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thù của trẻ em và NCTN rất quan trọng vì liên quan đến việc xác định năng lực pháp luật, năng lực hành vi, quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của một ngƣời khi tham gia vào các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, hành chính; năng lực chịu trách nhiệm hình sự của trẻ em và NCTN; cũng nhƣ trách nhiệm của Nhà nƣớc đối với các đối tƣợng này. Khái niệm người chưa thành niên vi phạm pháp luật Theo từ điển pháp luật “vi phạm pháp luật” có hai ý nghĩa. Theo nghĩa rộng, vi phạm pháp luật là các việc sai, trái pháp luật nói chung, bao gồm tất cả các loại vi phạm pháp luật đƣợc quy định trong hệ thống pháp luật. Theo nghĩa hẹp, vi phạm pháp luật cũng là các việc sai, trái pháp luật nhƣng không cấu thành tội phạm (không phải là tội phạm theo quy định của BLHS 2015), theo nghĩa này, thì các hành vi vi phạm pháp luật có thể là hành vi bị phạt vi phạm hành chính nhƣ phạt tiền, phạt cảnh cáo, bồi thƣờng thiệt hại, phạt kỷ luật lao động.
Tất cả các hành vi trên có mức độ nguy hiểm cho xã hội ít hơn tội phạm. Tuy nhiên, dƣới góc độ lý luận chung nhà nƣớc và pháp luật thì vi phạm pháp luật đƣợc hiểu theo cách thứ nhất, trên cơ sở đó phân loại vi phạm pháp luật đƣợc chia ra: - Vi phạm hình sự: là hành vi trái pháp luật, có lỗi, nguy hiểm cho xã hội, đƣợc quy định trong BLHS, do ngƣời có trách nhiệm hình sự thực hiện.