Đặt vấn đề Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực Nhà nước, được thực hiện thông qua những cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội cá biệt hóa những quy phạm pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các tổ chức, cá nhân cụ thể4. Trên cơ sở hoạt động áp dụng pháp luật đã giúp đảm bảo được quyền lợi và bảo vệ rất tốt những lợi ích của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật. Trong đó đối với ngành luật dân sự, để có thể bảo vệ hữu hiệu lợi ích của các bên chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự thì rất cần hoạt động áp dụng pháp luật dân sự. Để đảm bảo hoạt động áp dụng pháp luật dân sự thì nguồn của Luật dân sự đóng vai trò rất quan trọng.
Từ các loại nguồn của luật dân sự Việt Nam giúp cho các bên chủ thể có trong tay công cụ hữu hiệu tự mình bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; hoặc có thể yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích của mình nếu quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm. Xuất phát từ điều này quyền tiếp cận công lý của các chủ thể đã được thực thi. Trong phạm vi bài viết tác giả phân tích các loại nguồn của Luật dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự 2015. Trên cơ sở đó tác giả chỉ rõ vai trò của nguồn của Luật dân sự đến vấn đề bảo vệ quyền dân sự, đảm bảo quyền tiếp cận công lý của chủ thể theo pháp luật dân sự.
Các loại nguồn của Luật dân sự Việt Nam theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 * Thạc sỹ Luật học, Giảng viên Khoa luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Giảng viên Khoa luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. 4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 9 Nguồn hiểu theo nghĩa thông thường là gốc phát sinh hoặc là xuất phát điểm của một sự vật hoặc một sự kiện nào đó.
Với ý nghĩa đó ta có thể hiểu nguồn của pháp luật là nơi xuất phát pháp luật, nó trả lời cho ta câu hỏi ấy, quy định ấy lấy ở đâu ra. Vì vậy mà ta có thể hiểu nguồn theo hai nghĩa như sau: Theo nghĩa nội dung của nguồn của pháp luật là ta xét đến nguồn gốc của pháp luật. Pháp luật thực ra là ý chí của giai cấp thống trị được nâng lên mà thành. Ý chí này lại phụ thuộc vào những điều kiện sinh họat vật chất trong xã hội quyết định.
Vậy nguồn của pháp luật xuất phát từ những cơ sở vật chất trong xã hội. Theo nghĩa hình thức thì chúng ta sẽ thấy nguồn của pháp luật là những văn bản pháp quy có chứa đựng những quy phạm pháp luật. Như vậy khái niệm này nguồn đã được thu hẹp chỉ xét đến hình thức thể hiện của nó mà thôi. Trước kia khi đề cập đến nguồn của Luật dân sự quan điểm truyền thống chúng ta cũng chỉ đề cập đến nguồn hiểu theo nghĩa hình thức tức là chỉ thừa nhận nguồn là những văn bản có chứa đựng các quy phạm pháp luật dân sự được ban hành theo trình tự thủ tục luật định.
Bởi lẽ quan điểm truyển thống nước Việt Nam là một nước theo hệ thống pháp luật thành văn, do đó theo quan điểm “nói có sách mách có chứng” tức là phải có hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật. Nhưng hiện nay quan điểm này đã được cởi mở hơn và chúng ta thừa nhận những loại nguồn khác nữa ngoài các văn bản quy phạm pháp luật dân sự. Quan điểm mới này rất tiến bộ và đã góp phần tạo nên sự đa dạng và linh hoạt trong việc vận dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự. Từ đó bảo đảm được quyền tiếp cận công lý của chủ thể trong quan hệ dân sự.
Hiện nay theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 chúng ta có các loại nguồn sau: Thứ nhất, “văn bản quy phạm pháp luật” như Hiến pháp, Bộ luật dân sự, Luật nhà ở, Luật hôn nhân gia đình, Luật sở hữu trí tuệ, các văn bản hướng dẫn thi hành… Đây là nguồn mang tính chất truyền thống cũng như là nguồn quan trọng nhất của Luật dân sự. Bởi lẽ việc có những quy phạm pháp luật dân sự là cơ sở pháp lý cụ thể, 10 rõ ràng nhất để bảo vệ quyền lợi của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự. Thứ hai, “tập quán” là một loại nguồn mang tính chất hỗ trợ bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật dân sự. Tập quán là một loại quy phạm xã hội mang tính đạo đức, được bảo đảm bằng sức mạnh của dư luận xã hội.
Tập quán là một quy tắc tổng quát và vĩnh cửu xuất phát trực tiếp từ dân chúng và được cơ quan Nhà nước công nhận là có tính cách bắt buộc5. Có những tập quán được hình thành và tồn tại trong xã hội lâu đời và trên phạm vi rộng, nhưng có những tập quán chỉ trong một thời gian nhất định lại có tác dụng tiêu cực. Bộ luật dân sự 2005 có thừa nhận tập quán là một loại nguồn của Luật dân sự nhưng chưa hề giải thích thế nào là tập quán. Hiện nay trong Bộ luật dân sự 2015 tại khoản 1 Điều 5 đã có định nghĩa thế nào là tập quán và như một lời khẳng định đây là một loại nguồn cũng rất quan trọng trong pháp luật dân sự6.
Tiền đề của việc áp dụng tập quán này chính là thực tiễn đời sống dân sự phong phú, sống động, rộng lớn mà pháp luật dân sự không thể bao quát hết trong khi theo nguyên tắc pháp chế trong lĩnh vực tố tụng dân sự đòi hỏi cơ quan Nhà nước không thể từ chối giải quyết tranh chấp theo yêu cầu của người dân với lý do không có pháp luật quy định. Với quy định tại Điều 5 Bộ luật dân sự 2015 thì ta chỉ có thể áp dụng tập quán nếu các bên trong quan hệ dân sự không có thỏa thuận với nhau, pháp luật không quy định và tập quán không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Thứ ba, “án lệ, lẽ công bằng” đây là một loại nguồn mới được bổ sung vào trong Bộ luật dân sự 2015. Về án lệ ngày 06/4/2016 Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã công bố 6 án lệ sau khi đã được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn, thông qua.
Đây cũng là những án lệ đầu tiên kể từ trước tới nay và được thừa nhận là nguồn chính thức của pháp luật. Theo quy định tại Điều 1 của Nghị quyết số 5 Nguyễn Mạnh Bách (2004), Luật Dân Sự Việt Nam lược khảo, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 6 Khoản 1 Điều 5 BLDS 2015 quy định: “Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự”.
11 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì án lệ được hiểu như sau: Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. Án lệ đáp ứng yêu cầu kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong công tác xét xử, khắc phục tình trạng quá tải và chậm ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luâ ̣t, đặc biệt là trong bối cảnh những vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án gia tăng cả về số lượng và mức độ phức tạp; nhiều quy định của pháp luật còn mang tính định tính, chưa rõ hoặc chưa thống nhất dẫn đến những cách hiểu và vận dụng khác nhau, góp phần bổ sung cho những thiếu sót, những lỗ hổng của pháp luật thành văn và khắc phục được tình trạng thiếu pháp luật; tạo điều kiện cho việc áp dụng pháp luật được dễ dàng, thuận lợi hơn7.8 Lẽ công bằng là gì? Làm sao để đánh giá được lẽ công bằng, dựa vào lương tâm hay nhận thức hay dựa vào cách ứng xử được tác động bởi quy phạm đạo đức, tôn giáo. Theo quy định tại khoản 3 Điều 45 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có đề cập đến lẽ công bằng. Theo đó lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó.
Như vậy lẽ công bằng được khuôn định bởi quy định tại Điều 45 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Theo kinh nghiệm các nước, kể cả các nước có nền tư pháp lâu đời và phát triển, xét xử theo lẽ công bằng là một công việc khó khăn và phức tạp của tòa án nói chung và các thẩm 7 “Việc áp dụng án lệ ngoài ý nghĩa giải quyết một vụ án cụ thể còn thiết lập ra một tiền lệ để xử những vụ án tương tự sau này, do đó, sẽ tạo bình đẳng trong việc xét xử các vụ án giống nhau, giúp tiên lượng được kết quả của các vụ tranh chấp, tiết kiệm công sức của các Thẩm phán, Người tham gia tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng, tạo ra sự công bằng trong xã hội. Án lệ là khuôn thước mẫu mực để các thẩm phán tuân theo vì được đúc kết, chọn lọc kỹ và mang tính chuyên nghiệp. Khi ấy thẩm phán chỉ cần đối chiếu để đưa ra phán quyết, tránh chuyện mỗi người nhìn nhận, đánh giá vấn đề một kiểu.
Từ đó tránh được chuyện dư luận xã hội cho rằng việc xét xử của tòa án là không bình đẳng. Đồng thời, áp dụng án lệ còn giúp các đơn vị khi đàm phán, soạn thảo và ký kết hợp đồng giao dịch dân sự, thương mại biết phòng tránh rủi ro.