Chương 1 NHỮNG QUAN NIỆM CHUNG VỀ CÔNG LÝ VÀ QUYỀN TIẾP CẬN CÔNG LÝ 1. Khái niệm về Công lý Khái niệm công lý là khái niệm thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học trong nhiều lĩnh vực khác nhau cũng như trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Trong khoa học pháp lý, công lý cần được xem xét trên một số khía cạnh như: lịch sử nhà nước và pháp luật; thực hiện pháp luật; xây dựng pháp luật. Trong khuôn khổ luận văn này, tôi sẽ trình bày quan điểm phân loại của mình dựa trên những khía cạnh đó.
Khái niệm về công lý trong lịch sử tư tưởng nhà nước và pháp luật Theo đó, các phân đoạn phát triển của công lý tương ứng với các giai đoạn phát triển của xã hội. Luận văn căn cứ vào một số bộ luật tiêu biểu hoặc quan niệm của một số nhà tư tưởng tiêu biểu cho từng thời kỳ phát triển lịch sử nhà nước để làm cơ sở cho việc phân tích sự biểu hiện của quan niệm về công lý trong thời kỳ tương ứng. Thời kỳ cổ đại Trong thời kỳ này xã hội còn sơ khai, ý niệm về công lý cũng mới bắt đầu được hình thành gắn với sự ra đời của các nhà nước và pháp luật đầu tiên. a) Phương Tây cổ đại Thật thiếu sót nếu đi tìm hiểu một định nghĩa chỉ ở nơi các nhà tư tưởng hay các triết gia lỗi lạc, đặc biệt ở giai đoạn này ở phương Tây.
Bởi văn minh phương Tây thời cổ đại gắn liền với hệ thống các truyền thuyết, thần thoại mà ở đó thể hiện sự kiến giải vũ trụ, con người và những khát vọng của họ. Do đó, việc đi tìm quan niệm về công lý xuất phát từ các câu truyện với sự tồn tại của các vị thần theo tín ngưỡng của người dân thời cổ đại lúc bấy giờ là một điều cần thiết. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sớm nhất, người Ai Cập cổ đại có 2 vị thần đại diện cho công lý, đó là nữ thần Isis và nữ thần Maats. Nữ thần Isis được cho là vị thần tượng trưng cho Sự thât, Công bằng, Trật tự, Pháp luật Đạo đức và Công lý trong đời sống tâm linh của người Ai Cập cổ đại.
Và nữ thần Maat được biết đến là chủ nhân của Phòng phân xử với tính cách thẳng thắn, đánh giá tất cả bằng sự xem xét tình cảm thận trọng. Thần thoại Hy Lạp còn lưu giữ đến ngày nay phần lớn thông qua các tác phẩm văn học, nghệ thuật, mang tính nhân văn và tư tưởng triết học, giàu tính duy lý, triết lý. Được cho là sự hòa quyện giữa tư duy cảm tình và tư duy lý luận, cả hai hòa quyện tạo thành thể thống nhất và tạo nên những tác phẩm huy hoàng thời cổ đại. Trải qua nhiều biến cố, ngày nay thần thoại Hy Lạp chỉ còn giới hạn trong quá khứ, văn học và nghệ thuật.
Tuy nhiên, chúng ta không thể phủ nhận được tính giáo dục, triết lý, giá trị sâu sắc và ý tưởng được thể hiện trong thần thoại Hy Lạp. Theo truyền thyết, ở thời cổ đại của Hy Lạp, Bầu trời (Uranus) và Mặt đấy (Gaia) lấy nhau và sinh ra nữ thần Themis, một trong mười hai Titan (thần) tối cao của đỉnh Olympus. Themis là người làm ra luật định, thiết lập trật tự và ổn định trên thế gian để đảm bảo công lý. Themis tượng trưng cho Công lý, là hiện thân của pháp luật và trật tự tự nhiên, khác với luật và trật tự do con người đặt ra.
Themis tham dự các cuộc tranh luận của chư thần, làm cố vấn cho chư thần trong các dịp đó. Themis thường chủ tọa các cuộc họp của thường nhân. Những thỏa hiệp kí kết giữa thường nhân đều được sự bảo trợ của Themis. Sự chính trực, nghiêm minh của bà đã khiến người Hy Lạp cổ xưa tạc tượng bà tay cầm kiếm, tay cầm cân, mắt bịt một dải băng để chứng tỏ sự vô tư, không thiên vị của phán quan.
Themis có sáu người con với Zeus, một trong số đó đã kế tục bà trở thành hiện thân của công lý, đó là nữ thần Dike, thường được gọi là nữ thần 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của Lẽ phải, Chân lý và Sự thật. Nàng chuyên theo dõi việc tuân thủ quy định của Zeus dưới trần gian và báo lại cho cha mình biết những trường hợp vi phạm để Chúa thần giáng sấm sét trừng trị. Nhưng cuộc sống nơi trần thế mỗi lúc một thêm hỗn loạn, những hạt giống xấu xa từ chiếc hộp Pandora ngày càng lớn mạnh đến nỗi Dike cai quan không xuể, đành đổi tên thành Astreae có nghĩa là “tinh cầu” và bay về trời, như một ám chỉ: công lý tuyệt đối chỉ có thể được tìm thấy ở chân trời xa tắp, nơi người trần không thể nào vươn tới được. Khi người La Mã thôn tính Hy Lạp từ thế kỷ II Tr.CN, họ đã xây dựng nữ thần Công lý của họ, nữ thần Justitia dựa trên hình tượng của nữ thần Themis và nữ thần Dike.
Theo đó, nữ thần Justitia là hiện thân của công lý trong thần thoại La Mã. Bà là một trinh nữ sống giữa loài người cho đến khi loài người trở nên hủ bại và tha hóa, buộc bà phải bay lên trời và hóa thân thành chòm sao Xử nữ (Virgo). Hình tượng nữ thần Justitia thường được xuất hiện với một vòng nguyện quế trên đầu, ngồi trên ghế, tay cầm một chiếc gậy dài và một nhành cây. Đôi khi, bà xuất hiện khi một tay cầm thanh gươm, một tay cầm cuộn giấy giữa hai con sư tử (dinh tổng trấn trong thành phố Venezia).
Tuy nhiên, không phải ở nơi nào, hình tượng nữ thần tự do cũng xuất hiện với đôi mắt bị kín. Có nhiều bức tượng và bức tranh vẽ Nữ thần Công lý không bịt mắt, với lời giải thích rằng, Nữ thần Công lý với quyền năng của mình, không cần bịt mắt vẫn có thể tránh được sự tác động của các yếu tố ngoại cảnh và đảm bảo được việc xét xử công bằng, không thiên vị. Điển hình như tượng thần Themis tại Tòa án tối cao Brisbane, tiểu bang Queensland, Australia hay thần Themis ở tòa nhà thượng viện Nga. Qua những hình tượng thần thoại kể trên, chúng ta có thể thấy được, dù ở các khu vực địa lý, nền văn minh khác nhau nhưng, công lý – ước vọng 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của con người luôn được thể hiện bởi sự nghiêm minh, khách quan của pháp luật.
Ở đây, công lý dường như tách bạch khỏi công bằng, khi không có sự xuất hiện của bất kỳ một tầng lớp, hay một giai cấp nào cả. Nó chỉ là quan hệ giữa cái đúng – sai, cái thiện – ác và pháp luật – sự trừng phạt. Trong nền văn minh Hy Lạp cổ đại, công lý được cho rằng bắt nguồn từ trật tự xã hội, một xã hội ổn định, có trật tự sẽ thúc đẩy sự phát triển của công lý và ngược lại, một nền công lý mạnh mẽ sẽ thúc đẩy một xã hội trật tự, ổn định. Plato, triết gia vĩ đại của Hy Lạp, người mà ảnh hưởng của ông được mô tả một cách tuyệt vời bởi nhà triết học thế kỷ 20 Alfred North Whitehead: “Nét đặc trưng chung rõ ràng nhất của truyền thống triết học châu Âu là nó bao gồm một chuỗi những phụ chú cho tác phẩm của Plato”, đã đưa những quan điểm, tư tưởng của mình về vấn đề công lý trong những tranh luận về vấn đề đạo đức và pháp luật, đặc biệt trong cuốn Luật pháp, tác phẩm cuối cùng còn dang dở trước khi ông qua đời.
Trong Quyển IV tác phẩm Luật pháp, khi bàn về cuộc sống đức hạnh, Platon cho rằng, công lý hay những nguyên tắc tôn giáo cùng những đạo đức đóng vai trò dẫn dắt cuộc sống của họ: Này các bạn, Thượng đế, theo truyền thuyết, nắm giữ trong tay Ngài cái đầu, cái giữa và cái cuối của mọi sự vật, nghĩa là chúng vận hành theo luật tự nhiên do Ngài xếp đặt trên một đường thẳng cho đến lúc kết thúc. Công lý luôn đi theo Ngài và sẽ trừng phạt những kẻ không thực hành đến nơi đến chốn luật của Thượng đế…hắn bị luận phạt vì công lý không có gì khác hơn là phải thuận nhận mà thôi. 818] Như vậy, khi nói về pháp luật, Platon nhấn mạnh đến luật tự nhiên, theo đó, công lý với nghĩa trừng phạt những kẻ vi phạm luật tự nhiên cũng mang tính tự nhiên. Ngoài ra, sự “thuận nhận” hay “tâm phục khẩu phục” cũng mang lại ý nghĩa tốt đẹp cho công lý.
Tức là kẻ làm sai cũng nhận thấy cái 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sai của mình và vui vẻ, chấp thuận mà đồng ý với biện pháp trừng phạt áp dụng đối với mình. Đấy là sự khác nhau giữa “trừng phạt” theo nghĩa thông thường và “trừng phạt” của “công lý tự nhiên”. Trừng phạt theo nghĩa thông thường, có thể hiểu là sự trừng phạt theo quy định của pháp luật, do nhà làm luật quy định, kẻ làm điều sai có thể không “thuận nhận”. Tiếp tục dòng tư tưởng này, Pltaon thể hiện một lần nữa trong Quyển V tác phẩm Luật pháp khi bàn về việc quý trọng linh hồn và những giáo huấn về một cuộc sống đức hạnh: “Kẻ nhập vào bè xấu phải làm và chịu đựng những cái mà những kẻ theo bản chất ấy thường nói và làm đối với nhau, cái đau khổ không phải là công lý nhưng là sự trừng phạt; vì công lý và sự ngay thẳng thì cao quý, còn trừng phạt là sự đau khổ đi liền với sự bất chính” [2, tr.823] Trong Quyển X, khi bàn về các tội của những người không tin vào Thần linh hoặc có những ý tưởng sai lầm về các ngài.
Plato thể hiện rõ sự bất khoan dung của mình đối với những người này. Thái độ này xuất phải bởi lòng yêu nước của ông, chỉ nhằm chống lại cái mà ông cho rằng sẽ làm tổn thương nền đạo đức quốc gia. Về việc trừng phạt đối với những loại người này, Platon nói: “Mọi vật vốn có linh hồn đã thay đổi và nơi chúng có một nguyên tắc thay đổi, thay đổi theo luật pháp và vận số: những thay đổi nhỏ về bản chất dịch chuyển trên mặt đất, nhưng tội nghiêm trọng thì phải xuống địa ngục, nghĩa là vào chỗ Diêm Vương và những nơi khác của cõi âm, mà nghe tên ai cũng phải kinh hãi.